Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực địa phương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực địa phương. Hiển thị tất cả bài đăng
Nhắc đến Quảng Nam, người ta nhớ ngay đến mì Quảng. Nhưng với ai đã từng thưởng thức ắt hẳn sẽ không quên được món phở sắn cá ngừ của vùng đất Quế Sơn của vùng đất dưới chân Hòn Kẽm, Hòn Tàu.

< Hấp dẫn tô nước nhưng (nước lèo) chan phở sắn.

Phở sắn Quế Sơn là món ngon độc đáo và rất Quảng. Rất Quảng, vì đó là “hợp phần” của ăn no và ăn ngon. Của béo, bùi, cay, nhẫn. Là dễ dàng thay đổi một vài thành phần nguyên liệu để phù hợp với điều kiện sẵn có hoặc khẩu vị của người ăn. Rất Quảng vì ngon lưỡi, ngon mũi, ngon tai, lại ngon con mắt…

< Một công đoạn làm phở sắn.

Quế Sơn là miền đất trung du, trừ những dải đồng bằng hẹp phù sa sông Thu Bồn, phần lớn diện tích trồng trọt là đất bạc màu, thiếu nước. Từ lâu đời cây sắn (khoai mì) trở thành loại cây lương thực quan trọng góp phần nuôi sống con người và chăn nuôi gia cầm, gia súc. Người Quế Sơn cần cù, chịu thương chịu khó, lại khéo tay, giàu sáng kiến. Chỉ riêng món phở sắn Quế Sơn cũng đã nói được nhiều điều.

Chuyện rằng, những lò chế biến sợi phở sắn bắt đầu xuất hiện từ những năm 60 của thế kỷ trước, nhưng rồi chiến tranh đã khiến các chủ lò phải đóng cửa sau đó chưa đầy 10 năm. Hơn 20 năm trở lại đây, nghề này được khởi động trở lại và đang có cơ phát triển khá. Lần lượt Quế Châu, thị trấn Đông Phú, Quế Thuận rồi Quế Minh, Quế Long, Quế Phong… các lò làm sợi phở lần lượt được dựng lên và làm ăn khấm khá. Tiếng tăm món phở mang tên vùng đất thảo thơm hương quế bắt đầu lan dần khắp tỉnh Quảng Nam, ngược ra Đà Nẵng, lan dần vào Quảng Ngãi. Và xa dần…

< Phở sắn khô.

Sợi phở sắn người ta vẫn gọi vui là hàng rào B40 bởi hình dạng của nó giống những tấm lưới rào chắn.
Để có sợi phở sắn, việc đầu tiên là phải chế biến sắn củ hoặc sắn lát thành bột sắn tinh. Đem sắn lát đã phơi khô xay bằng máy hoặc giã củ sắn tươi trong cối đá để có bột thô. Bột ấy ngâm trong ghè nước lã, rồi quấy lên để tinh bột rời gân và xơ. Qua đêm thì bột lắng xuống đáy. Nghiêng ghè để chắt bỏ nước và xơ củ nổi bên trên. Lại cho nước vào, cứ ngâm xả như vậy cho đến khi nước không còn đục, chất độc, xơ gân và vị đắng trong bột sắn thô sẽ bị loại, để chỉ còn lại bột tinh. Bột tinh sau khi phơi nắng có thể dùng nấu chè, làm bánh kẹo, bún cuộn, bánh tráng...

Để làm bánh phở sắn, trước tiên, cho bột tinh vào nồi, bắc lên bếp, khuấy đều tay, đun nhỏ lửa để bột chín đều và khỏi bị sít dưới đáy nồi. Quấy như vậy đến khi nghe tay hơi nặng là bột đã chín tới. Đưa bột chín ra thau, để nguội, rồi múc bột đổ lên khuôn. Người thợ dùng lực ép chày từ trên xuống để bột trong khuôn thoát ra các lỗ tròn nhỏ phía dưới đáy. Một người thợ khác dùng tấm vỉ tre đan mỏng, vừa khéo léo đón lấy sợi phở vừa đưa thật đều tay trải trên vỉ theo hình mắt cáo. Những tấm phở này sẽ được đem phơi khô cho tròn một nắng.

Trước khi ăn, người ta bẻ tấm phở sắn thành những miếng nhỏ bằng non nửa bàn tay, đem ngâm trong nước ấm chừng vài ba phút cho vừa mềm, vớt ra rổ, để ráo nước. Cứ mỗi tô cho vào vài bánh phở, chan nước nhưn (nước chan) rồi phủ lên trên chuối thái, rau húng, rắc ít lạc rang đã giã dập, thêm quả ớt, lát chanh, mấy muỗng hành thái mỏng là có một tô phở ngon lành.

Chế biến nước nhưn là khâu quan trọng cho một tô phở sắn đậm đà hương vị của miền đất đèo Le, hòn Tàu. Thịt cá lóc thái lát mỏng, ướp gia vị để chừng mươi phút. Xương thì đem giã vắt lấy nước. Bắc chảo lên bếp, cho ít dầu lạc và khử bằng mấy tép tỏi đập dập. Đổ cá vào um cho săn lại, nước cốt xương cá đưa vào, châm nước cho vừa đủ dùng, gia chút bột nghệ, bột tiêu để thêm màu, thêm vị.

Màu trắng sẫm của bánh phở đan vào màu trắng nõn của những lát chuối sứ non. Rau húng duỗi tươi tắn xanh làm bật lên màu ớt chín đỏ lựng. Lạc rang ngả vàng, hành lơ mơ tím. Phủ lên tất cả là những đốm sao vàng nghệ của nước nhưn.

< Phơi phở sắn.

Sợi phở sắn đã qua nước chần vừa đủ chín có vị bùi bùi ăn kèm miếng thịt cá lóc béo ngầy ngậy. Lạc rang vừa giã thơm phưng phức lẫn lát chuối sứ cây vừa chát vừa nhân nhẫn. Rau húng se se điệu đà với the the hành tím rồi bất chợt phá cách với trái ớt xiêm làm thực khách cay đến ứa nước mắt, mồ hôi lấm tấm trên thái dương, vị giác từ đây bắt đầu bị kích thích đến khó kiềm. Người sành điệu khi ăn phở sắn cứ chốc chốc đưa tay bẻ một mẫu bánh tráng mè nướng dòn. Âm thanh rôm rốp của bánh tráng khi bẻ bằng tay và khi nhai khe khẽ trong khoang miệng sẽ khiến bữa ăn càng trở nên thống khoái.

Kể là như vậy, nhưng chẳng cần câu nệ, nước nhưn, rau sống. Chuối cây xắt lát có thể thay bằng búp chuối non, rau dớn rừng hay rau muống chẻ sợi. Cá lóc có thể thay bằng cá ngừ, cá hồng hay nhộng tằm, cua ốc. Húng duỗi thay bằng rau quế…Có nơi lại gia thêm thịt nạc băm và tôm vào nước nhưn.

Về Quế Sơn, đi thuyền trên sông Thu Bồn vào lúc ánh tà, ngắm núi Chúa, núi Cà Tang trong chiều nhạt bóng, chợt nhớ câu ca dao thắm tình, nặng nghĩa: Ngó lên Hòn Kẽm, Đá Dừng/ Thương cha, nhớ mẹ quá chừng bạn ơi…

Quay mũi con thuyền nhỏ để về nhà bạn. Đợi ở đó từ lúc nào, những khuôn mặt hiền hậu chân tình, nụ cười hiếu khách. Nổi bếp lên cho nồi nước nhưn nóng sốt và bắt đầu thưởng thức tô phở sắn đậm đà, râm ran những câu chuyện ngỡ như không bao giờ dứt về suối Ông, suối Bà, về quả lòn bon và những ngôi nhà cổ…

Nhắc đến món ăn Quảng Nam là nhớ ngay mì Quảng. Đã được xếp vào hàng món ngon số má trong gia đình ẩm thực Việt nên một tô mì Quảng ngon giờ có thể tìm thấy ở Quảng Ngãi, Bình Định, Sài Gòn, Phú Quốc... Phở sắn Quế Sơn cũng là món ăn rất Quảng, nhưng chỉ có thể tìm thấy ở Quế Sơn.

Đã vậy, sao bạn không về với Quế Sơn để thưởng thức một món ăn vừa lạ, vừa độc đáo. Và hơn thế nữa, được đến với một miền quê thơ mộng, thanh bình?

Nhắc đến Quảng Nam, người ta nhớ ngay đến mì Quảng. Nhưng với ai đã từng thưởng thức ắt hẳn sẽ không quên được món phở sắn cá ngừ của vùng đất Quế Sơn của vùng đất dưới chân Hòn Kẽm, Hòn Tàu.

< Hấp dẫn tô nước nhưng (nước lèo) chan phở sắn.

Phở sắn Quế Sơn là món ngon độc đáo và rất Quảng. Rất Quảng, vì đó là “hợp phần” của ăn no và ăn ngon. Của béo, bùi, cay, nhẫn. Là dễ dàng thay đổi một vài thành phần nguyên liệu để phù hợp với điều kiện sẵn có hoặc khẩu vị của người ăn. Rất Quảng vì ngon lưỡi, ngon mũi, ngon tai, lại ngon con mắt…

< Một công đoạn làm phở sắn.

Quế Sơn là miền đất trung du, trừ những dải đồng bằng hẹp phù sa sông Thu Bồn, phần lớn diện tích trồng trọt là đất bạc màu, thiếu nước. Từ lâu đời cây sắn (khoai mì) trở thành loại cây lương thực quan trọng góp phần nuôi sống con người và chăn nuôi gia cầm, gia súc. Người Quế Sơn cần cù, chịu thương chịu khó, lại khéo tay, giàu sáng kiến. Chỉ riêng món phở sắn Quế Sơn cũng đã nói được nhiều điều.

Chuyện rằng, những lò chế biến sợi phở sắn bắt đầu xuất hiện từ những năm 60 của thế kỷ trước, nhưng rồi chiến tranh đã khiến các chủ lò phải đóng cửa sau đó chưa đầy 10 năm. Hơn 20 năm trở lại đây, nghề này được khởi động trở lại và đang có cơ phát triển khá. Lần lượt Quế Châu, thị trấn Đông Phú, Quế Thuận rồi Quế Minh, Quế Long, Quế Phong… các lò làm sợi phở lần lượt được dựng lên và làm ăn khấm khá. Tiếng tăm món phở mang tên vùng đất thảo thơm hương quế bắt đầu lan dần khắp tỉnh Quảng Nam, ngược ra Đà Nẵng, lan dần vào Quảng Ngãi. Và xa dần…

< Phở sắn khô.

Sợi phở sắn người ta vẫn gọi vui là hàng rào B40 bởi hình dạng của nó giống những tấm lưới rào chắn.
Để có sợi phở sắn, việc đầu tiên là phải chế biến sắn củ hoặc sắn lát thành bột sắn tinh. Đem sắn lát đã phơi khô xay bằng máy hoặc giã củ sắn tươi trong cối đá để có bột thô. Bột ấy ngâm trong ghè nước lã, rồi quấy lên để tinh bột rời gân và xơ. Qua đêm thì bột lắng xuống đáy. Nghiêng ghè để chắt bỏ nước và xơ củ nổi bên trên. Lại cho nước vào, cứ ngâm xả như vậy cho đến khi nước không còn đục, chất độc, xơ gân và vị đắng trong bột sắn thô sẽ bị loại, để chỉ còn lại bột tinh. Bột tinh sau khi phơi nắng có thể dùng nấu chè, làm bánh kẹo, bún cuộn, bánh tráng...

Để làm bánh phở sắn, trước tiên, cho bột tinh vào nồi, bắc lên bếp, khuấy đều tay, đun nhỏ lửa để bột chín đều và khỏi bị sít dưới đáy nồi. Quấy như vậy đến khi nghe tay hơi nặng là bột đã chín tới. Đưa bột chín ra thau, để nguội, rồi múc bột đổ lên khuôn. Người thợ dùng lực ép chày từ trên xuống để bột trong khuôn thoát ra các lỗ tròn nhỏ phía dưới đáy. Một người thợ khác dùng tấm vỉ tre đan mỏng, vừa khéo léo đón lấy sợi phở vừa đưa thật đều tay trải trên vỉ theo hình mắt cáo. Những tấm phở này sẽ được đem phơi khô cho tròn một nắng.

Trước khi ăn, người ta bẻ tấm phở sắn thành những miếng nhỏ bằng non nửa bàn tay, đem ngâm trong nước ấm chừng vài ba phút cho vừa mềm, vớt ra rổ, để ráo nước. Cứ mỗi tô cho vào vài bánh phở, chan nước nhưn (nước chan) rồi phủ lên trên chuối thái, rau húng, rắc ít lạc rang đã giã dập, thêm quả ớt, lát chanh, mấy muỗng hành thái mỏng là có một tô phở ngon lành.

Chế biến nước nhưn là khâu quan trọng cho một tô phở sắn đậm đà hương vị của miền đất đèo Le, hòn Tàu. Thịt cá lóc thái lát mỏng, ướp gia vị để chừng mươi phút. Xương thì đem giã vắt lấy nước. Bắc chảo lên bếp, cho ít dầu lạc và khử bằng mấy tép tỏi đập dập. Đổ cá vào um cho săn lại, nước cốt xương cá đưa vào, châm nước cho vừa đủ dùng, gia chút bột nghệ, bột tiêu để thêm màu, thêm vị.

Màu trắng sẫm của bánh phở đan vào màu trắng nõn của những lát chuối sứ non. Rau húng duỗi tươi tắn xanh làm bật lên màu ớt chín đỏ lựng. Lạc rang ngả vàng, hành lơ mơ tím. Phủ lên tất cả là những đốm sao vàng nghệ của nước nhưn.

< Phơi phở sắn.

Sợi phở sắn đã qua nước chần vừa đủ chín có vị bùi bùi ăn kèm miếng thịt cá lóc béo ngầy ngậy. Lạc rang vừa giã thơm phưng phức lẫn lát chuối sứ cây vừa chát vừa nhân nhẫn. Rau húng se se điệu đà với the the hành tím rồi bất chợt phá cách với trái ớt xiêm làm thực khách cay đến ứa nước mắt, mồ hôi lấm tấm trên thái dương, vị giác từ đây bắt đầu bị kích thích đến khó kiềm. Người sành điệu khi ăn phở sắn cứ chốc chốc đưa tay bẻ một mẫu bánh tráng mè nướng dòn. Âm thanh rôm rốp của bánh tráng khi bẻ bằng tay và khi nhai khe khẽ trong khoang miệng sẽ khiến bữa ăn càng trở nên thống khoái.

Kể là như vậy, nhưng chẳng cần câu nệ, nước nhưn, rau sống. Chuối cây xắt lát có thể thay bằng búp chuối non, rau dớn rừng hay rau muống chẻ sợi. Cá lóc có thể thay bằng cá ngừ, cá hồng hay nhộng tằm, cua ốc. Húng duỗi thay bằng rau quế…Có nơi lại gia thêm thịt nạc băm và tôm vào nước nhưn.

Về Quế Sơn, đi thuyền trên sông Thu Bồn vào lúc ánh tà, ngắm núi Chúa, núi Cà Tang trong chiều nhạt bóng, chợt nhớ câu ca dao thắm tình, nặng nghĩa: Ngó lên Hòn Kẽm, Đá Dừng/ Thương cha, nhớ mẹ quá chừng bạn ơi…

Quay mũi con thuyền nhỏ để về nhà bạn. Đợi ở đó từ lúc nào, những khuôn mặt hiền hậu chân tình, nụ cười hiếu khách. Nổi bếp lên cho nồi nước nhưn nóng sốt và bắt đầu thưởng thức tô phở sắn đậm đà, râm ran những câu chuyện ngỡ như không bao giờ dứt về suối Ông, suối Bà, về quả lòn bon và những ngôi nhà cổ…

Nhắc đến món ăn Quảng Nam là nhớ ngay mì Quảng. Đã được xếp vào hàng món ngon số má trong gia đình ẩm thực Việt nên một tô mì Quảng ngon giờ có thể tìm thấy ở Quảng Ngãi, Bình Định, Sài Gòn, Phú Quốc... Phở sắn Quế Sơn cũng là món ăn rất Quảng, nhưng chỉ có thể tìm thấy ở Quế Sơn.

Đã vậy, sao bạn không về với Quế Sơn để thưởng thức một món ăn vừa lạ, vừa độc đáo. Và hơn thế nữa, được đến với một miền quê thơ mộng, thanh bình?

Vào những ngày hè nóng bức, ở miền quê Bình Định ta thường thấy những cô gái gánh xoa xoa đi bán khắp nơi, miệng luôn cất tiếng rao lanh lảnh: “Xa xa đây! Xa xa đây! Ai ăn xa xa hôn ?”. Người địa phương đã gọi chệch từ xoa xoa, thành xa xa và đã thành một thói quen khó sửa.

< Gánh xoa xoa tại Bình Định.

Xoa xoa là món ăn mát bổ được chế biến hoàn toàn bằng rau câu biển. Rau câu có màu trắng đục hay màu nâu sẫm, có loại màu tím nhạt. Người ta vớt rau câu từ dưới biển rồi đem phơi nắng cho khô để chở đi bán hoặc bỏ vào các bao để dùng dần.

Trước khi nấu, rau câu khô được ngâm trong nước khoảng một ngày để cho rau nở đều và trút bỏ hết các chất bẩn. Khi luộc người ta bỏ thêm vào rau câu một ít lá bứa, có tác dụng giúp cho xoa xoa mau đông.

< Thu hoạch rong câu.

Sau khi chín, người ta vớt rau câu ra và bỏ vào chiếc bao vải để ép lấy nước, còn bã thì bỏ đi. Nước luộc rau câu được để nguội trong những chiếc tô nhựa hay sành chừng vài giờ thì đông lại, ta đã có được món xoa xoa. Thường thì xoa xoa có màu xanh nhạt hay nâu thẫm nhưng nếu cắt nhỏ ra từng khối thì nó trong suốt như pha lê. Người ta dùng con dao bén “xắn” thành từng miếng nhỏ vuông vức, mỗi bề chừng ba, bốn phân tây bỏ vào chiếc thau nhựa đã có sẵn nước lã. Khi nào dùng, người ta mới vớt ra.

Vào những ngày hè oi bức món ăn này được ưa chuộng nhất. Các cô gái thường gánh xoa xoa đi bán khắp chợ quê, chợ tỉnh. Tiếng rao lãnh lót, vang xa giữa trưa hè.

< Rong câu biển có hình dáng thế này.

Khi có người ăn, cô bán hàng lấy vài khối xoa xoa bỏ vào chén, dùng con dao nhỏ bén, xắt lia lịa, chẳng mấy chốc đã thành những miếng xoa xoa nhỏ vụn. Tiếng mũi dao chạm vào thành chén nghe giòn tan. Sau đó cô lại nhẹ nhàng dùng chiếc múc bé tẹo được làm bằng vỏ cau khô khéo léo múc mật trong chiếc hũ đất rồi rải đều lên chén xoa xoa.

< Rong câu sau khi được chế biến thành xoa xoa.

Gọi là ăn nhưng phải húp mới ngon và đúng là người sành ăn, bởi vậy ít có ai chịu dùng thìa. Vị ngọt thơm của mật, vị cay nóng của gừng cộng với sự mềm mại của xoa xoa sẽ làm hài lòng mọi thực khách.

“Xa xa vốn ít lời nhiều
Anh về bỏ vợ cưới người xa xa”

Theo Nhật Bình Nguyễn Như Bình (DĐKT)

Vào những ngày hè nóng bức, ở miền quê Bình Định ta thường thấy những cô gái gánh xoa xoa đi bán khắp nơi, miệng luôn cất tiếng rao lanh lảnh: “Xa xa đây! Xa xa đây! Ai ăn xa xa hôn ?”. Người địa phương đã gọi chệch từ xoa xoa, thành xa xa và đã thành một thói quen khó sửa.

< Gánh xoa xoa tại Bình Định.

Xoa xoa là món ăn mát bổ được chế biến hoàn toàn bằng rau câu biển. Rau câu có màu trắng đục hay màu nâu sẫm, có loại màu tím nhạt. Người ta vớt rau câu từ dưới biển rồi đem phơi nắng cho khô để chở đi bán hoặc bỏ vào các bao để dùng dần.

Trước khi nấu, rau câu khô được ngâm trong nước khoảng một ngày để cho rau nở đều và trút bỏ hết các chất bẩn. Khi luộc người ta bỏ thêm vào rau câu một ít lá bứa, có tác dụng giúp cho xoa xoa mau đông.

< Thu hoạch rong câu.

Sau khi chín, người ta vớt rau câu ra và bỏ vào chiếc bao vải để ép lấy nước, còn bã thì bỏ đi. Nước luộc rau câu được để nguội trong những chiếc tô nhựa hay sành chừng vài giờ thì đông lại, ta đã có được món xoa xoa. Thường thì xoa xoa có màu xanh nhạt hay nâu thẫm nhưng nếu cắt nhỏ ra từng khối thì nó trong suốt như pha lê. Người ta dùng con dao bén “xắn” thành từng miếng nhỏ vuông vức, mỗi bề chừng ba, bốn phân tây bỏ vào chiếc thau nhựa đã có sẵn nước lã. Khi nào dùng, người ta mới vớt ra.

Vào những ngày hè oi bức món ăn này được ưa chuộng nhất. Các cô gái thường gánh xoa xoa đi bán khắp chợ quê, chợ tỉnh. Tiếng rao lãnh lót, vang xa giữa trưa hè.

< Rong câu biển có hình dáng thế này.

Khi có người ăn, cô bán hàng lấy vài khối xoa xoa bỏ vào chén, dùng con dao nhỏ bén, xắt lia lịa, chẳng mấy chốc đã thành những miếng xoa xoa nhỏ vụn. Tiếng mũi dao chạm vào thành chén nghe giòn tan. Sau đó cô lại nhẹ nhàng dùng chiếc múc bé tẹo được làm bằng vỏ cau khô khéo léo múc mật trong chiếc hũ đất rồi rải đều lên chén xoa xoa.

< Rong câu sau khi được chế biến thành xoa xoa.

Gọi là ăn nhưng phải húp mới ngon và đúng là người sành ăn, bởi vậy ít có ai chịu dùng thìa. Vị ngọt thơm của mật, vị cay nóng của gừng cộng với sự mềm mại của xoa xoa sẽ làm hài lòng mọi thực khách.

“Xa xa vốn ít lời nhiều
Anh về bỏ vợ cưới người xa xa”

Theo Nhật Bình Nguyễn Như Bình (DĐKT)

Nhắc đến đặc sản xứ Tuyên, là nhắc đến cơm lam, cam sành… Thế nhưng, trong những thứ “của ngon vật lạ” ấy, bánh cuốn, món bánh “giản dị đời thường” lại đang dần trở thành một món ăn được nhiều du khách xa gần biết đến.

Điểm khác biệt của bánh cuốn Tuyên Quang chính là ở nước chấm. Nếu ai đó đã có dịp thử các món bánh cuốn ở những vùng miền khác nhau sẽ thấy được sự khác biệt trong nước chấm của bánh cuốn Tuyên Quang. Theo chị Hoàng Thị Liên (phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang), một người tráng bánh cuốn trên 20 năm nay thì nước chấm phải là nước ninh xương, thứ nước ấy phải sánh, có vị đậm đà mà vẫn cho cảm giác “dịu ngọt” của xương hầm ở đầu lưỡi mỗi khi nếm thử.

Cũng theo chị Liên, nước chấm sẽ không thể ngon nếu thiếu gia vị như hạt tiêu, ớt, chanh, hành khô chao mỡ và một chút lá mùi thái nhỏ. Tất cả tạo nên một bát nước chấm chắc chắn không lẫn vào đâu được của món bánh cuốn nơi đây.

Nếu như ở Việt Trì (Phú Thọ) có bánh cuốn nhân thịt ngóe, ở Cao Bằng có bánh cuốn thịt vịt, ở Hà Nội có bánh cuốn Thanh Trì và bánh cuốn trứng cà cuống phố cổ, ở TP Hồ Chí Minh có bánh cuốn “Hạt gạo làng ta”… thì ở Tuyên Quang lại có món bánh cuốn chả viên rất riêng biệt. Chả được làm từ thịt lợn địa phương, giống lợn thơm ngon và chắc thịt, sau khi băm nhỏ thịt sẽ được trộn với nấm hương và mộc nhĩ vùng cao, tiếp đến được nắm thành viên nhỏ, chả được rán chín trước khi ăn kèm với bánh cuốn.

Viên chả ngậy mà không quá béo, thơm ngon ăn kèm với bánh quả thực là rất hợp. Bên cạnh món chả viên, nhiều du khách khi đến Tuyên Quang cũng rất thích ăn bánh cuốn với món chả quế, giò lụa của địa phương hay là bánh cuốn ốp với trứng gà ta. Chị Nguyễn Huyền Trang (Ba Đình, Hà Nội) cho biết: Chị rất hay lên Tuyên Quang đi lễ chùa đầu năm, cứ mỗi dịp đến đây là chị phải tìm ngay những tiệm bánh cuốn ngon để thưởng thức. Là một người sinh sống ở Hà Nội với rất nhiều món bánh cuốn ngon đặc sản nhưng theo chị Trang, bánh cuốn xứ Tuyên vẫn thực sự rất hấp dẫn mà nhiều khi khiến chị nhớ đến “nao lòng”.

Chị Nguyễn Thị Xuyến tổ 25 phường Minh Xuân (TP Tuyên Quang) cũng là một người có thâm niên tráng bánh cuốn với hơn một chục năm trong nghề. Bánh cuốn của chị Xuyến rất đắt hàng, tiệm bánh nằm trong con ngõ nhỏ dẫn từ hồ Minh Xuân vào lúc nào cũng đông khách từ sáng đến đêm. Chị Xuyến chia sẻ:  Bánh phải được tráng bằng ba loại gạo phối hợp ngâm ủ trong đêm, đến sáng gạo được xay và tráng ngay cho khách, vậy nên bánh của chị tráng luôn mềm, dẻo nhưng vẫn dai và đặc biệt hơn cả là bánh phải mỏng để đạt yêu cầu của món ăn này.

Nhân bánh ngoài việc cho mộc nhĩ, nấm hương, ruốc thịt hay ruốc tôm thì chị Xuyến còn cho thêm một vài thứ gia vị mà theo chị gọi là “bí quyết nhà nghề” nên càng làm cho bánh cuốn thêm hấp dẫn, lạ miệng. Cũng theo chị Xuyến, nghề làm bánh cuốn nhất là bánh cuốn tráng ăn ngay thực sự vất vả, thức khuya dậy sớm để mang đến cho khách hàng những đĩa bánh ngon, nóng hổi. Người tráng bánh phải là người có kĩ năng tốt, “luôn chân luôn tay” để phục vụ rất nhiều người trong một khoảng thời gian ngắn, không để khách hàng phải đợi lâu.

Ở Tuyên Quang hiện nay có rất nhiều tiệm bánh cuốn ngon có tiếng, được nhiều người ưa thích và cùng giới thiệu cho bạn bè, trong đó phải kể đến như: Bánh cuốn Minh “rạp” (gần rạp Tháng 8, TP Tuyên Quang), bánh cuốn bà Lìn gần đền Cảnh xanh, bánh cuốn Xã Tắc (TP Tuyên Quang), bánh cuốn Cầu Chả (Km số 5 Trung Môn, Yên Sơn), bánh cuốn Thảo (tổ 6 Phan Thiết)...

Người con của thành Tuyên đi xa hay về gần luôn nhớ món bánh cuốn nóng, xuýt xoa húp nước trong cái ngày đông lạnh giá. Thế mới thấu hiểu hết được hương vị của quê hương và càng thêm yêu mảnh đất này cũng như sức hấp dẫn của nó với những du khách khắp mọi nơi dù chỉ một lần đặt chân đến Tuyên Quang.

Theo Tindulich, ảnh internet

Nhắc đến đặc sản xứ Tuyên, là nhắc đến cơm lam, cam sành… Thế nhưng, trong những thứ “của ngon vật lạ” ấy, bánh cuốn, món bánh “giản dị đời thường” lại đang dần trở thành một món ăn được nhiều du khách xa gần biết đến.

Điểm khác biệt của bánh cuốn Tuyên Quang chính là ở nước chấm. Nếu ai đó đã có dịp thử các món bánh cuốn ở những vùng miền khác nhau sẽ thấy được sự khác biệt trong nước chấm của bánh cuốn Tuyên Quang. Theo chị Hoàng Thị Liên (phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang), một người tráng bánh cuốn trên 20 năm nay thì nước chấm phải là nước ninh xương, thứ nước ấy phải sánh, có vị đậm đà mà vẫn cho cảm giác “dịu ngọt” của xương hầm ở đầu lưỡi mỗi khi nếm thử.

Cũng theo chị Liên, nước chấm sẽ không thể ngon nếu thiếu gia vị như hạt tiêu, ớt, chanh, hành khô chao mỡ và một chút lá mùi thái nhỏ. Tất cả tạo nên một bát nước chấm chắc chắn không lẫn vào đâu được của món bánh cuốn nơi đây.

Nếu như ở Việt Trì (Phú Thọ) có bánh cuốn nhân thịt ngóe, ở Cao Bằng có bánh cuốn thịt vịt, ở Hà Nội có bánh cuốn Thanh Trì và bánh cuốn trứng cà cuống phố cổ, ở TP Hồ Chí Minh có bánh cuốn “Hạt gạo làng ta”… thì ở Tuyên Quang lại có món bánh cuốn chả viên rất riêng biệt. Chả được làm từ thịt lợn địa phương, giống lợn thơm ngon và chắc thịt, sau khi băm nhỏ thịt sẽ được trộn với nấm hương và mộc nhĩ vùng cao, tiếp đến được nắm thành viên nhỏ, chả được rán chín trước khi ăn kèm với bánh cuốn.

Viên chả ngậy mà không quá béo, thơm ngon ăn kèm với bánh quả thực là rất hợp. Bên cạnh món chả viên, nhiều du khách khi đến Tuyên Quang cũng rất thích ăn bánh cuốn với món chả quế, giò lụa của địa phương hay là bánh cuốn ốp với trứng gà ta. Chị Nguyễn Huyền Trang (Ba Đình, Hà Nội) cho biết: Chị rất hay lên Tuyên Quang đi lễ chùa đầu năm, cứ mỗi dịp đến đây là chị phải tìm ngay những tiệm bánh cuốn ngon để thưởng thức. Là một người sinh sống ở Hà Nội với rất nhiều món bánh cuốn ngon đặc sản nhưng theo chị Trang, bánh cuốn xứ Tuyên vẫn thực sự rất hấp dẫn mà nhiều khi khiến chị nhớ đến “nao lòng”.

Chị Nguyễn Thị Xuyến tổ 25 phường Minh Xuân (TP Tuyên Quang) cũng là một người có thâm niên tráng bánh cuốn với hơn một chục năm trong nghề. Bánh cuốn của chị Xuyến rất đắt hàng, tiệm bánh nằm trong con ngõ nhỏ dẫn từ hồ Minh Xuân vào lúc nào cũng đông khách từ sáng đến đêm. Chị Xuyến chia sẻ:  Bánh phải được tráng bằng ba loại gạo phối hợp ngâm ủ trong đêm, đến sáng gạo được xay và tráng ngay cho khách, vậy nên bánh của chị tráng luôn mềm, dẻo nhưng vẫn dai và đặc biệt hơn cả là bánh phải mỏng để đạt yêu cầu của món ăn này.

Nhân bánh ngoài việc cho mộc nhĩ, nấm hương, ruốc thịt hay ruốc tôm thì chị Xuyến còn cho thêm một vài thứ gia vị mà theo chị gọi là “bí quyết nhà nghề” nên càng làm cho bánh cuốn thêm hấp dẫn, lạ miệng. Cũng theo chị Xuyến, nghề làm bánh cuốn nhất là bánh cuốn tráng ăn ngay thực sự vất vả, thức khuya dậy sớm để mang đến cho khách hàng những đĩa bánh ngon, nóng hổi. Người tráng bánh phải là người có kĩ năng tốt, “luôn chân luôn tay” để phục vụ rất nhiều người trong một khoảng thời gian ngắn, không để khách hàng phải đợi lâu.

Ở Tuyên Quang hiện nay có rất nhiều tiệm bánh cuốn ngon có tiếng, được nhiều người ưa thích và cùng giới thiệu cho bạn bè, trong đó phải kể đến như: Bánh cuốn Minh “rạp” (gần rạp Tháng 8, TP Tuyên Quang), bánh cuốn bà Lìn gần đền Cảnh xanh, bánh cuốn Xã Tắc (TP Tuyên Quang), bánh cuốn Cầu Chả (Km số 5 Trung Môn, Yên Sơn), bánh cuốn Thảo (tổ 6 Phan Thiết)...

Người con của thành Tuyên đi xa hay về gần luôn nhớ món bánh cuốn nóng, xuýt xoa húp nước trong cái ngày đông lạnh giá. Thế mới thấu hiểu hết được hương vị của quê hương và càng thêm yêu mảnh đất này cũng như sức hấp dẫn của nó với những du khách khắp mọi nơi dù chỉ một lần đặt chân đến Tuyên Quang.

Theo Tindulich, ảnh internet

Hàng năm, vào mùa nước lên (khoảng từ tháng tám đến tháng mười Âm lịch), ở Cà Mau ba khía từ những hang ổ dày đặc dưới gốc đước, gốc mắm bị chìm trong nước, ba khía nhiều không biết bao nhiêu mà kể chen chúc nhau bám vào những thân đước, thân mắm. Gọi là “Chợ tình ba khía” cho vui chứ thực ra là ở thời điểm này ba khía quần hội cả một vùng, cư dân nơi này gọi là “ba khía hội”.

Họ hàng ba khía sống tập trung ở môi trường nước lợ, nơi các cửa sông, cửa rạch đổ ra biển, ba khía có nhiều nhất ở các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu... Thoạt trông ba khía rất giống cua đồng hoặc giống con chù ụ ở biển Ba Động Trà Vinh nhưng vóc dáng nhỏ hơn, càng và nghoe dẹp có thêm ba vạch ở trên chiếc mai màu sẫm nên “chết danh” ba khía.

Rất ngộ, đúng cữ tháng 8, tháng 10 hằng năm, từng cặp ba khía lềnh khềnh bu kín gốc tràm, mắm. Mỗi năm chúng chỉ xuất hiện khoảng 3 ngày, sau đó chúng tản đi đâu hết và năm sau đến hẹn lại lên. Chúng bám nhau sát rạt từng đôi, từng đôi một dày đặc cả một vùng như thể tổ chức “đám cưới” tập thể vậy. Tầm đó ba khía giao phối, sinh sản, cũng là lúc thịt ba khía chắc và ngon nhất. Nét độc đáo của chợ tình Ba Khía ở Cà Mau đã tạo nên điểm nhấn đặc biệt cho vùng đất này.

Ngay tại vùng đất mũi cũng có nhiều sự phân chia vùng sinh sống của ba khía. Chỉ có vùng Rạch Gốc, Tân Ân là ba khía có thịt ngon, thơm và chắc nịch. Ba khía vùng này ăn trái đước, vẹt đặc biệt là trái mắm đen – thứ cây có nhiều rễ bám sâu vào lòng đất của vùng bãi bồi, hàng năm rụng trái làm đen cả nước – nên gạch son nhiều và thịt chắc, ăn rất thơm. Những người sống ở Rạch Gốc cho biết ba khía có hai loại ngon: Một là loại có càng to màu xanh chuyên sống trong hang, dưới nước và trong các khu rừng ngập mặn. Hai là loại ba khía này càng nhỏ, thân mảnh nhưng chúng kẹp rất đau. Còn loại ba khía ăn trái mắm trắng có gạch màu tro thì ăn không ngon bằng.

Vào mùa ba khía “sánh đôi” những người dân chuyên nghề “làm ba khía” tứ phương gói ghém gạo, muối, nước, nóp ngủ, khạp da bò, khạp ba vú… chất xuống xuồng, neo đậu ở bìa rừng đợi đêm xuống, khi nước lớn ba khía kéo hàng đàn ra. Ban đêm ở rừng “muỗi kêu như sáo thổi”, những người thợ “săn ba khía” mặc áo dày, che kín mặt mũi, chân tay,  lấy vỏ tràm hay lá mắm khô xé nhỏ độn bên trong áo chống muỗi, cầm đuốc, bơi xuồng bắt đầu “mùa săn”. Chỉ cần ghé xuồng vào các gốc đước, mắm ba khía bám đầy không có chỗ trống vuốt nhẹ những "anh - chị” ba khía còn đang say sưa tình tự, cho vào khạp hoặc cần xé đặt sẵn trên khoang. Trong một con nước, một người có kinh nghiệm và cần mẫn có thể bắt được một khạp đầy ba khía.

Ngày trước, nghề làm ba khía bị xem là nghề hạ bạc của con nhà nghèo bởi muốn bắt phải ngủ rừng, ăn cơm bờ bụi, chịu muỗi vắt bu kín mình mẩy. Ca dao cũng ghi dấu mùa “săn ba khía”:
Tháng bảy nước chảy Cà Mau
Tháng mười ba khía hội kéo nhau đi làm
U Minh, Rạch Gốc, rừng tràm
Muỗi kêu kệ muỗi tao ham ba khía rồi.

Người ta còn gọi Cà Mau là xứ sở con ba khía bởi nó gắn bó với người nông dân ở đây từ hồi lập cõi mở đất để đến bây giờ món ba khía muối trở thành món “lừng danh Cà Mau”. Muối ba khía cũng phải có kinh nghiệm và kỹ thuật, quá trình đơn giản nhưng cách pha nước muối thế nào cho vừa là khó, nếu muối chưa đủ mặn, con ba khía sẽ bủng, không để được lâu. Cho nên phải qua hai lần nước muối, con ba khía mới giữ được màu sắc như khi còn sống, thịt vẫn chắc, mặn dịu, ăn ngon. Kinh nghiệm pha nước muối là bỏ hạt cơm nguội vào, nếu hạt cơm nổi lờ đờ là được. Nước muối chuẩn bị xong thì cho ba khía vào khạp da bò hoặc khạp ba vú ngâm. Tuyệt đối không để nước mưa lọt vào nếu không ba khía sẽ bị “trớ”, có mùi hôi. Phần nước muối còn lại trong khạp khi đã ăn hoặc bán hết ba khía dùng để nấu nước mắm rất ngon.

Tương truyền rằng công tử Bạc Liêu Ba Huy rất thích món ba khía muối. Chàng công tử “đốt tiền nấu trứng tỏ ra mình giàu” ấy ăn ba khía để nhắc bản thân mình nhớ cha ông thưở mở đất khai hoang đã đổ mồ hôi sôi nước mắt gây dựng cơ nghiệp. Thế mới biết cái món “chân quê” ấy đâu chỉ dành riêng cho người nghèo mà đó còn là “hồn quê”, là món ăn không thể nhạt phai trong tâm khảm bất cứ người nào đã từng sống, đã từng thưởng thức nó tại vùng sông nước Nam Bộ. Bởi vậy người miền Tây có câu “Đừng lo cưới vợ miệt đồng/ Ba khía cơm nguội ăn ròng cả năm”.

Từ vài năm nay, người ta chế biến thêm một vài món từ ba khía nhằm phục vụ nhu cầu ăn uống đang đòi hỏi ngày càng đa dạng: Ba khía rang me, ba khía rang mỡ hành, ba khía luộc "khan” chấm muối tiêu chanh ớt, cháo ba khía, gỏi ba khía… Độc đáo hơn còn có món canh chua ba khía. Lần về Rạch Gốc, cậu tôi hì hụi nấu canh chua ba khía đãi cháu. Trước tiên, rửa ba khía thật sạch đất bùn, sau đó bóc yếm và bẻ đôi làm hai nửa, tách cả càng, gọng. Tất cả ướp cùng hành lá giã nhuyễn, thêm đường, chút nước mắm, ít tiêu vào trộn đều. Bắc chảo dầu lên bếp, phi tỏi thật thơm rồi cho ba khía  đã ướp vào xào sơ. Khi mùi thơm của ba khía bốc lên cho cà chua đã bổ miếng vào, đảo đều và nhanh tay cho nước sôi để ngội với lượng vừa ăn. Đợi nồi canh sôi bùng lên, lọc trái giác và một ít bắp chuối đã thái chỉ vào. Ba khía chín, nêm gia vị lại lần nữa cho vừa miệng rồi tắt bếp, rắc thêm tiêu. Lần đầu tiên được ăn món canh chua lạ miệng đó, tôi “quất” một bữa no “đã đời”.

Nói gì thì nói, ba khía có chế biến thành trăm món ngon khác thì cũng không “qua mặt” được món nguyên thủy: Ba khía muối! Nếu giản dị thì xúc tô cơm nguội, vừa ăn vừa lấy tay bóc con ba khía muối, nút càng chùn chụt đúng điệu dân miền Tây rặt. Công phu hơn thì trụng ba khía bằng nước cơm còn ấm, tách yếm ba khía, bẻ ngoe, càng ướp tỏi ớt giã nhuyễn, chút đường cát trắng, thêm nước cốt chanh, sắt trái khế thiệt mỏng hay đập dập mấy trái cóc non bỏ vô tô trộn đều, để một chút cho ba khía thấm gia vị… Khi ăn nhất định phải có đầy đủ rau ăn kèm thì ăn món ba khía mới “bắt”, đó là dưa leo, chuối chát, rau thơm, rau răm, rau dừa, bông lục bình… Nhiều người ăn cầu kì còn phi mỡ tỏi cho thơm rồi tưới lên tô ba khía đã ướp để tăng độ béo. Món ba khía lúc này đã trở nên tuyệt hảo, ngon nhức răng. Dưa bồn bồn nhận bằng nước vo gạo ăn với ba khía Rạch Gốc thì ăn “chết bỏ”.

Ba khía giờ không còn là món nhà nghèo mà đã được vinh danh trong menu ở các nhà hàng, khách sạn nhưng tình thiệt ăn ba khía trong nhà lá, chan nước chắt cơm, uống nước mưa hay xúc tô cơm nguội với vài con ba khía ngồi dưới gốc dừa vừa ăn vừa bốc mới cảm nhận đầy đủ chất ruộng đồng sông nước miền Tây. Dân miền Τâу quen sống thanh bạch, mộc mạc; сó lẽ vì thế mà ngaу đến cả món mắm ba khía đặc sản cũng rất đỗi bình dị với dân quê. Tình thiệt, mắm ba khía chỉ ngоn nhất khi ăn với…cơm nguội!

Mấy năm gần đây ba khía Cà Mau không còn nhiều như trước, rừng bãi bồi bị phá, trái mắm đen thưa rụng vì cây mắm bị triệt hạ nhiều, ba khía “tủi thân” rủ nhau đi đâu càng ngày càng vắng. Tự dưng nghe nhói lòng khi nghĩ vào những ngày 30 tháng 8 hoặc tháng 9 âm lịch tới không Cà Mau không còn “chợ tình” ba khía thì Cà Mau có còn là Cà Mau….

Hàng năm, vào mùa nước lên (khoảng từ tháng tám đến tháng mười Âm lịch), ở Cà Mau ba khía từ những hang ổ dày đặc dưới gốc đước, gốc mắm bị chìm trong nước, ba khía nhiều không biết bao nhiêu mà kể chen chúc nhau bám vào những thân đước, thân mắm. Gọi là “Chợ tình ba khía” cho vui chứ thực ra là ở thời điểm này ba khía quần hội cả một vùng, cư dân nơi này gọi là “ba khía hội”.

Họ hàng ba khía sống tập trung ở môi trường nước lợ, nơi các cửa sông, cửa rạch đổ ra biển, ba khía có nhiều nhất ở các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu... Thoạt trông ba khía rất giống cua đồng hoặc giống con chù ụ ở biển Ba Động Trà Vinh nhưng vóc dáng nhỏ hơn, càng và nghoe dẹp có thêm ba vạch ở trên chiếc mai màu sẫm nên “chết danh” ba khía.

Rất ngộ, đúng cữ tháng 8, tháng 10 hằng năm, từng cặp ba khía lềnh khềnh bu kín gốc tràm, mắm. Mỗi năm chúng chỉ xuất hiện khoảng 3 ngày, sau đó chúng tản đi đâu hết và năm sau đến hẹn lại lên. Chúng bám nhau sát rạt từng đôi, từng đôi một dày đặc cả một vùng như thể tổ chức “đám cưới” tập thể vậy. Tầm đó ba khía giao phối, sinh sản, cũng là lúc thịt ba khía chắc và ngon nhất. Nét độc đáo của chợ tình Ba Khía ở Cà Mau đã tạo nên điểm nhấn đặc biệt cho vùng đất này.

Ngay tại vùng đất mũi cũng có nhiều sự phân chia vùng sinh sống của ba khía. Chỉ có vùng Rạch Gốc, Tân Ân là ba khía có thịt ngon, thơm và chắc nịch. Ba khía vùng này ăn trái đước, vẹt đặc biệt là trái mắm đen – thứ cây có nhiều rễ bám sâu vào lòng đất của vùng bãi bồi, hàng năm rụng trái làm đen cả nước – nên gạch son nhiều và thịt chắc, ăn rất thơm. Những người sống ở Rạch Gốc cho biết ba khía có hai loại ngon: Một là loại có càng to màu xanh chuyên sống trong hang, dưới nước và trong các khu rừng ngập mặn. Hai là loại ba khía này càng nhỏ, thân mảnh nhưng chúng kẹp rất đau. Còn loại ba khía ăn trái mắm trắng có gạch màu tro thì ăn không ngon bằng.

Vào mùa ba khía “sánh đôi” những người dân chuyên nghề “làm ba khía” tứ phương gói ghém gạo, muối, nước, nóp ngủ, khạp da bò, khạp ba vú… chất xuống xuồng, neo đậu ở bìa rừng đợi đêm xuống, khi nước lớn ba khía kéo hàng đàn ra. Ban đêm ở rừng “muỗi kêu như sáo thổi”, những người thợ “săn ba khía” mặc áo dày, che kín mặt mũi, chân tay,  lấy vỏ tràm hay lá mắm khô xé nhỏ độn bên trong áo chống muỗi, cầm đuốc, bơi xuồng bắt đầu “mùa săn”. Chỉ cần ghé xuồng vào các gốc đước, mắm ba khía bám đầy không có chỗ trống vuốt nhẹ những "anh - chị” ba khía còn đang say sưa tình tự, cho vào khạp hoặc cần xé đặt sẵn trên khoang. Trong một con nước, một người có kinh nghiệm và cần mẫn có thể bắt được một khạp đầy ba khía.

Ngày trước, nghề làm ba khía bị xem là nghề hạ bạc của con nhà nghèo bởi muốn bắt phải ngủ rừng, ăn cơm bờ bụi, chịu muỗi vắt bu kín mình mẩy. Ca dao cũng ghi dấu mùa “săn ba khía”:
Tháng bảy nước chảy Cà Mau
Tháng mười ba khía hội kéo nhau đi làm
U Minh, Rạch Gốc, rừng tràm
Muỗi kêu kệ muỗi tao ham ba khía rồi.

Người ta còn gọi Cà Mau là xứ sở con ba khía bởi nó gắn bó với người nông dân ở đây từ hồi lập cõi mở đất để đến bây giờ món ba khía muối trở thành món “lừng danh Cà Mau”. Muối ba khía cũng phải có kinh nghiệm và kỹ thuật, quá trình đơn giản nhưng cách pha nước muối thế nào cho vừa là khó, nếu muối chưa đủ mặn, con ba khía sẽ bủng, không để được lâu. Cho nên phải qua hai lần nước muối, con ba khía mới giữ được màu sắc như khi còn sống, thịt vẫn chắc, mặn dịu, ăn ngon. Kinh nghiệm pha nước muối là bỏ hạt cơm nguội vào, nếu hạt cơm nổi lờ đờ là được. Nước muối chuẩn bị xong thì cho ba khía vào khạp da bò hoặc khạp ba vú ngâm. Tuyệt đối không để nước mưa lọt vào nếu không ba khía sẽ bị “trớ”, có mùi hôi. Phần nước muối còn lại trong khạp khi đã ăn hoặc bán hết ba khía dùng để nấu nước mắm rất ngon.

Tương truyền rằng công tử Bạc Liêu Ba Huy rất thích món ba khía muối. Chàng công tử “đốt tiền nấu trứng tỏ ra mình giàu” ấy ăn ba khía để nhắc bản thân mình nhớ cha ông thưở mở đất khai hoang đã đổ mồ hôi sôi nước mắt gây dựng cơ nghiệp. Thế mới biết cái món “chân quê” ấy đâu chỉ dành riêng cho người nghèo mà đó còn là “hồn quê”, là món ăn không thể nhạt phai trong tâm khảm bất cứ người nào đã từng sống, đã từng thưởng thức nó tại vùng sông nước Nam Bộ. Bởi vậy người miền Tây có câu “Đừng lo cưới vợ miệt đồng/ Ba khía cơm nguội ăn ròng cả năm”.

Từ vài năm nay, người ta chế biến thêm một vài món từ ba khía nhằm phục vụ nhu cầu ăn uống đang đòi hỏi ngày càng đa dạng: Ba khía rang me, ba khía rang mỡ hành, ba khía luộc "khan” chấm muối tiêu chanh ớt, cháo ba khía, gỏi ba khía… Độc đáo hơn còn có món canh chua ba khía. Lần về Rạch Gốc, cậu tôi hì hụi nấu canh chua ba khía đãi cháu. Trước tiên, rửa ba khía thật sạch đất bùn, sau đó bóc yếm và bẻ đôi làm hai nửa, tách cả càng, gọng. Tất cả ướp cùng hành lá giã nhuyễn, thêm đường, chút nước mắm, ít tiêu vào trộn đều. Bắc chảo dầu lên bếp, phi tỏi thật thơm rồi cho ba khía  đã ướp vào xào sơ. Khi mùi thơm của ba khía bốc lên cho cà chua đã bổ miếng vào, đảo đều và nhanh tay cho nước sôi để ngội với lượng vừa ăn. Đợi nồi canh sôi bùng lên, lọc trái giác và một ít bắp chuối đã thái chỉ vào. Ba khía chín, nêm gia vị lại lần nữa cho vừa miệng rồi tắt bếp, rắc thêm tiêu. Lần đầu tiên được ăn món canh chua lạ miệng đó, tôi “quất” một bữa no “đã đời”.

Nói gì thì nói, ba khía có chế biến thành trăm món ngon khác thì cũng không “qua mặt” được món nguyên thủy: Ba khía muối! Nếu giản dị thì xúc tô cơm nguội, vừa ăn vừa lấy tay bóc con ba khía muối, nút càng chùn chụt đúng điệu dân miền Tây rặt. Công phu hơn thì trụng ba khía bằng nước cơm còn ấm, tách yếm ba khía, bẻ ngoe, càng ướp tỏi ớt giã nhuyễn, chút đường cát trắng, thêm nước cốt chanh, sắt trái khế thiệt mỏng hay đập dập mấy trái cóc non bỏ vô tô trộn đều, để một chút cho ba khía thấm gia vị… Khi ăn nhất định phải có đầy đủ rau ăn kèm thì ăn món ba khía mới “bắt”, đó là dưa leo, chuối chát, rau thơm, rau răm, rau dừa, bông lục bình… Nhiều người ăn cầu kì còn phi mỡ tỏi cho thơm rồi tưới lên tô ba khía đã ướp để tăng độ béo. Món ba khía lúc này đã trở nên tuyệt hảo, ngon nhức răng. Dưa bồn bồn nhận bằng nước vo gạo ăn với ba khía Rạch Gốc thì ăn “chết bỏ”.

Ba khía giờ không còn là món nhà nghèo mà đã được vinh danh trong menu ở các nhà hàng, khách sạn nhưng tình thiệt ăn ba khía trong nhà lá, chan nước chắt cơm, uống nước mưa hay xúc tô cơm nguội với vài con ba khía ngồi dưới gốc dừa vừa ăn vừa bốc mới cảm nhận đầy đủ chất ruộng đồng sông nước miền Tây. Dân miền Τâу quen sống thanh bạch, mộc mạc; сó lẽ vì thế mà ngaу đến cả món mắm ba khía đặc sản cũng rất đỗi bình dị với dân quê. Tình thiệt, mắm ba khía chỉ ngоn nhất khi ăn với…cơm nguội!

Mấy năm gần đây ba khía Cà Mau không còn nhiều như trước, rừng bãi bồi bị phá, trái mắm đen thưa rụng vì cây mắm bị triệt hạ nhiều, ba khía “tủi thân” rủ nhau đi đâu càng ngày càng vắng. Tự dưng nghe nhói lòng khi nghĩ vào những ngày 30 tháng 8 hoặc tháng 9 âm lịch tới không Cà Mau không còn “chợ tình” ba khía thì Cà Mau có còn là Cà Mau….

Ngoài thịt gà sống thiến, thịt lợn xá xíu, ba chỉ áp chảo, chân giò kho mác mật, miến măng nấm hương… mâm cơm ngày tết của đồng bào Tày, Nùng ở miền núi phía Bắc không bao giờ thiếu món 'nằm khau' (nằm khâu).

Món gì tên nghe lạ vậy?
Hỏi ra mới biết đó là món thịt heo nấu nhừ, xếp trên bát lùm lùm hình quả đồi nên gọi là nằm khau (tiếng Tày, Nùng nằm là chín nhừ, khau là quả đồi). Món này còn có tên gọi khác là khau nhục (khau: đồi, nhục: thịt).

Nằm khau được làm từ thịt ba chỉ. Nghe vậy hẳn có người sẽ nghĩ món ăn chắc là ngấy. Nhưng không. Với tài nấu nướng của mình, những “đầu bếp gia đình” ở các bản làng đã làm nên món nằm khau khiến người ăn phải gật gù, khen ngợi.

"Nằm khau có xuất xứ từ đâu và từ bao giờ chẳng rõ. Chỉ biết đó là món ăn truyền thống của người Tày, Nùng. Ngày tết, món nằm khau đã góp cho mâm cỗ của đồng bào thêm hương vị".

Tôi đã từng tò mò xem người trong bản làm món này. Thịt ba chỉ cắt miếng to chừng bàn tay, cạo rửa sạch sẽ rồi đem luộc. Chỉ luộc sơ, cốt để miếng thịt săn lại. Dùng que tre nhọn đầu xăm kỹ phần bì, xong xoa đều một lượt giấm hoặc nước cốt chanh. Thịt được ướp mắm muối, bột ngọt, để mươi phút cho ngấm. Mới thế thôi đã nghe dậy mùi thơm quyến rũ.

Thịt sau đó được đem rán trong chảo mỡ sôi. Khi rán phải quay mặt bì xuống dưới để bì chín vàng. Do đã ngấm giấm chua, lớp bì nở phồng, giòn xốp mà không cứng. Cũng không cần phải rán kỹ quá, chỉ cần bì nở đều, có màu vàng là được.

Nhưng như thế mới chỉ được một nửa công đoạn chế biến. Thịt vớt ra, để đó cho nguội và ráo mỡ. Bắt đầu sang phần làm khoai môn, loại khoai củ to hơn nắm tay, nhiều bột, có vân màu tím, được bà con trồng nhiều trong vườn nhà, không phải môn ngứa. Khoai môn gọt vỏ, bổ dọc, thái lát dày đem chiên giòn. Khoai chiên xong, lát nào lát nấy se vàng, sém cạnh, thơm ngọt và bắt mắt.

Thịt và khoai đã chế biến xong. Bây giờ mới là khâu cuối cùng để cho ra đời món nằm khau. Thịt được thái ra từng miếng dày, lại tẩm ướp một lần nữa với gừng tươi, tỏi bằm và quả mác mật khô giã nhỏ. Chế thêm một chút nước mắm, một thìa rượu trắng. Xếp thịt và khoai vào bát. Khi xếp phải lật ngược miếng thịt cho phần bì quay xuống. Cứ một miếng thịt xen kẽ một miếng khoai. Xong xuôi, úp một chiếc bát khác lên trên làm nắp đậy, lật ngược lại rồi đem hấp cách thủy.

Mâm cơm ngày tết đã được dọn ra. Rượu xuân đã được rót. Mọi người nâng ly chúc tụng. Lúc đó người nội trợ mới mở vung nồi, bê khay hấp ra. Những bát nằm khau vẫn còn nóng hổi.

Mở nắp đậy, bát thịt đầy có ngọn, những miếng thịt xếp đều chằn chặn còn nguyên hình bát úp. Màu bì vàng ruộm, nâu đỏ. Mùi thơm của mác mật, gừng, tỏi… hòa quyện thành một hương vị đặc biệt, sực nức, ngạt ngào. Gắp một miếng nếm thử. Thịt thơm ngậy, mềm lừ. Khoai vừa bột vừa bùi, dẻo quánh. Hai vị này quyện với nhau thật hài hòa. Béo mà không mỡ, nhừ mà không nát.

Nằm khau ăn nóng, ấm sực cả người. Gắp thêm miếng nữa, nhấp một chút rượu, hơi xuân thêm phần nồng nàn, câu chuyện đầu năm càng thêm rôm rả.

Theo Ba Hưng (DulichTuoitre), internet

Ngoài thịt gà sống thiến, thịt lợn xá xíu, ba chỉ áp chảo, chân giò kho mác mật, miến măng nấm hương… mâm cơm ngày tết của đồng bào Tày, Nùng ở miền núi phía Bắc không bao giờ thiếu món 'nằm khau' (nằm khâu).

Món gì tên nghe lạ vậy?
Hỏi ra mới biết đó là món thịt heo nấu nhừ, xếp trên bát lùm lùm hình quả đồi nên gọi là nằm khau (tiếng Tày, Nùng nằm là chín nhừ, khau là quả đồi). Món này còn có tên gọi khác là khau nhục (khau: đồi, nhục: thịt).

Nằm khau được làm từ thịt ba chỉ. Nghe vậy hẳn có người sẽ nghĩ món ăn chắc là ngấy. Nhưng không. Với tài nấu nướng của mình, những “đầu bếp gia đình” ở các bản làng đã làm nên món nằm khau khiến người ăn phải gật gù, khen ngợi.

"Nằm khau có xuất xứ từ đâu và từ bao giờ chẳng rõ. Chỉ biết đó là món ăn truyền thống của người Tày, Nùng. Ngày tết, món nằm khau đã góp cho mâm cỗ của đồng bào thêm hương vị".

Tôi đã từng tò mò xem người trong bản làm món này. Thịt ba chỉ cắt miếng to chừng bàn tay, cạo rửa sạch sẽ rồi đem luộc. Chỉ luộc sơ, cốt để miếng thịt săn lại. Dùng que tre nhọn đầu xăm kỹ phần bì, xong xoa đều một lượt giấm hoặc nước cốt chanh. Thịt được ướp mắm muối, bột ngọt, để mươi phút cho ngấm. Mới thế thôi đã nghe dậy mùi thơm quyến rũ.

Thịt sau đó được đem rán trong chảo mỡ sôi. Khi rán phải quay mặt bì xuống dưới để bì chín vàng. Do đã ngấm giấm chua, lớp bì nở phồng, giòn xốp mà không cứng. Cũng không cần phải rán kỹ quá, chỉ cần bì nở đều, có màu vàng là được.

Nhưng như thế mới chỉ được một nửa công đoạn chế biến. Thịt vớt ra, để đó cho nguội và ráo mỡ. Bắt đầu sang phần làm khoai môn, loại khoai củ to hơn nắm tay, nhiều bột, có vân màu tím, được bà con trồng nhiều trong vườn nhà, không phải môn ngứa. Khoai môn gọt vỏ, bổ dọc, thái lát dày đem chiên giòn. Khoai chiên xong, lát nào lát nấy se vàng, sém cạnh, thơm ngọt và bắt mắt.

Thịt và khoai đã chế biến xong. Bây giờ mới là khâu cuối cùng để cho ra đời món nằm khau. Thịt được thái ra từng miếng dày, lại tẩm ướp một lần nữa với gừng tươi, tỏi bằm và quả mác mật khô giã nhỏ. Chế thêm một chút nước mắm, một thìa rượu trắng. Xếp thịt và khoai vào bát. Khi xếp phải lật ngược miếng thịt cho phần bì quay xuống. Cứ một miếng thịt xen kẽ một miếng khoai. Xong xuôi, úp một chiếc bát khác lên trên làm nắp đậy, lật ngược lại rồi đem hấp cách thủy.

Mâm cơm ngày tết đã được dọn ra. Rượu xuân đã được rót. Mọi người nâng ly chúc tụng. Lúc đó người nội trợ mới mở vung nồi, bê khay hấp ra. Những bát nằm khau vẫn còn nóng hổi.

Mở nắp đậy, bát thịt đầy có ngọn, những miếng thịt xếp đều chằn chặn còn nguyên hình bát úp. Màu bì vàng ruộm, nâu đỏ. Mùi thơm của mác mật, gừng, tỏi… hòa quyện thành một hương vị đặc biệt, sực nức, ngạt ngào. Gắp một miếng nếm thử. Thịt thơm ngậy, mềm lừ. Khoai vừa bột vừa bùi, dẻo quánh. Hai vị này quyện với nhau thật hài hòa. Béo mà không mỡ, nhừ mà không nát.

Nằm khau ăn nóng, ấm sực cả người. Gắp thêm miếng nữa, nhấp một chút rượu, hơi xuân thêm phần nồng nàn, câu chuyện đầu năm càng thêm rôm rả.

Theo Ba Hưng (DulichTuoitre), internet

Một sáng mùa đông thức dậy, thèm ăn một cái gì đó nóng, dễ nuốt mà không phải là bún, phở, tôi chợt nhớ ra bánh cuốn. Thế là khoác áo lại, bắt một chuyến xe buýt tới gõ cửa nhà người bạn phố Hàng Cót rồi hai người đủng đỉnh xuống Hàng Gà, “Bánh cuốn Phượng” đã mở cửa, đón những thực khách đầu tiên.

Quán nhỏ xíu, căn nhà số 68, mới sơn sửa lại nên nhìn nổi bật giữa những căn nhà tường vàng, mái nâu lân cận. Quán độc đáo ở chỗ chỉ mở cửa đúng từ 7 giờ sáng và hết khách lúc chưa đến 11 giờ trưa. Bàn ghế được xếp gọn nhất có thể do đặc thù nằm trong Phố Cổ, đất chật người đông.

Một khoảnh nhỏ- hơi nhô ra vỉa hè là chỗ ngồi của người chuyên tráng bánh, người chuyên rắc hành, thái chả cho khách, người chuyên lo trông coi xe, dọn dẹp bát đũa. Thế mà cứ đều răm rắp, ai có việc người đó, chưa bao giờ xảy ra cãi cọ, dù khách hàng có khi phải đứng xếp hàng mới đến lượt vào ăn.

Chúng tôi là những người mở hàng của “Bánh cuốn Phượng” sớm hôm đó. Người tráng bánh chỉ mặc một lần áo len, vì riêng hơi nóng tỏa từ chiếc nồi hơi lên cũng đủ làm chị ấm hồng đôi má.

Trên mặt bàn, nước chấm, rau thơm, ớt, tỏi, hạt tiêu đã sẵn sàng. Rau húng xanh non, mỡ màng. Tô nước chấm đều ăm ắp, màu hổ phách trong veo, nhìn rõ những lát ớt đỏ tươi và những miếng nấm hương được thái mỏng. Tôi “kết” bánh cuốn Hàng Gà cũng vì thứ nguyên liệu “không giống ai” của món ăn này: nấm hương.

Cùng với mộc nhĩ, thịt nạc, hành củ, nấm hương được băm nhỏ và xào chín để làm nhân bánh. Nấm hương cũng được xắt nhỏ, xào thơm rồi thả vào tô nước chấm nóng hổi, chờ thực khách cảm nhận được cái thơm, cái giòn của món ăn.

Hai phần bánh cuốn chả được bưng ra trước mặt chúng tôi. Những miếng bánh cuốn trắng mềm mại, trong veo, nhìn rõ cả những lát hành và nấm hương được băm nhỏ xếp chồng lên nhau trên một chiếc đĩa màu xanh ngọc. Cạnh đó là vài lát chả quế đã được hấp nóng hổi. Vài cọng rau thơm xanh xanh phủ một lớp trên cùng. Tôi tò mò nhìn người bạn đồng hành cẩn thận rắc một chút hạt tiêu, thả thêm vài lát ớt vào bát nước chấm. “Trời lạnh, thế này là tuyệt nhất!”, anh cười.

Nước chấm hòa đủ vị chua cay mặn ngọt. Bánh cuốn nóng hổi, mềm mại, thơm lừng mùi nấm hương, thịt nạc, mộc nhĩ. Một chút hăng hăng của cọng rau húng. Tất cả hòa vào một vị ngon khó cưỡng lại. Chúng tôi ai cũng gắp liên tục cho đến khi chiếc đĩa trống trơn, chỉ còn lại... vài cái cuống rau thơm. Người bạn nháy mắt, “Ấm người rồi chứ?”. Tôi tiếc rẻ, chưa muốn đứng dậy vì mải hít hà mùi thơm của những đĩa bánh cuốn đang được bưng ra cho những vị khách tiếp theo...

Tôi thích bánh cuốn. Hầu như đến tỉnh thành nào tôi cũng nếm thử món ăn này. Bánh cuốn trứng Lạng Sơn ăn ngầy ngậy, là lạ. Bánh cuốn kèm chả mực Hạ Long ngon đậm đà. Bánh cuốn thịt nướng Tam Đảo ăn giữa một trời đất đầy sương mù và gió lạnh kể ra cũng thú vị.

Riêng ở Hà Nội thôi cũng có bao nhiêu thức bánh cuốn: Bánh cuốn nguội Thanh Trì (ngoại thành Hà Nội) ngon một cách giản dị, bánh cuốn nhân thịt gà cuối phố Hàng Bồ lạ lẫm, bánh cuốn Thanh Vân nhân ruốc tôm thơm lừng đầu phố Hàng Gà.... Thế nhưng, công nhận, tôi chỉ yêu bánh cuốn nhân nấm, thịt của cửa hàng Phượng- 68 Hàng Gà ấy.

Không phải quán nhỏ, xinh xắn trông sang Hàng Mã rực rỡ màu sắc mỗi độ Giáng sinh, năm mới; cũng không phải bát nước chấm ngon mềm môi mỗi lần nếm thử; không phải anh bạn đi cùng có nụ cười duyên...; mà có lẽ món ăn Hà Nội ngon ở chính cái không gian, nơi những món ăn có tuổi đời cả trăm năm, được hình thành trong một con phố cổ kính, xưa cũ...

Tôi yêu sớm mùa đông Hà Nội, khi gió thổi vừa đủ làm người ta lạnh, ngồi xuống một hàng bánh cuốn đầu phố Hàng Gà, ngắm khói bay trên tay người tráng bánh, ngửi mùi thơm từ gạo, từ hành, từ nấm, nếm thử miếng bánh cuốn tưởng giản đơn nhưng lắm kỳ công của người làm ra nó. Thế là đủ cho bao nhiêu yêu thương về một vùng đất tôi gọi tên: Hà Nội!

Theo TNO, internet

Một sáng mùa đông thức dậy, thèm ăn một cái gì đó nóng, dễ nuốt mà không phải là bún, phở, tôi chợt nhớ ra bánh cuốn. Thế là khoác áo lại, bắt một chuyến xe buýt tới gõ cửa nhà người bạn phố Hàng Cót rồi hai người đủng đỉnh xuống Hàng Gà, “Bánh cuốn Phượng” đã mở cửa, đón những thực khách đầu tiên.

Quán nhỏ xíu, căn nhà số 68, mới sơn sửa lại nên nhìn nổi bật giữa những căn nhà tường vàng, mái nâu lân cận. Quán độc đáo ở chỗ chỉ mở cửa đúng từ 7 giờ sáng và hết khách lúc chưa đến 11 giờ trưa. Bàn ghế được xếp gọn nhất có thể do đặc thù nằm trong Phố Cổ, đất chật người đông.

Một khoảnh nhỏ- hơi nhô ra vỉa hè là chỗ ngồi của người chuyên tráng bánh, người chuyên rắc hành, thái chả cho khách, người chuyên lo trông coi xe, dọn dẹp bát đũa. Thế mà cứ đều răm rắp, ai có việc người đó, chưa bao giờ xảy ra cãi cọ, dù khách hàng có khi phải đứng xếp hàng mới đến lượt vào ăn.

Chúng tôi là những người mở hàng của “Bánh cuốn Phượng” sớm hôm đó. Người tráng bánh chỉ mặc một lần áo len, vì riêng hơi nóng tỏa từ chiếc nồi hơi lên cũng đủ làm chị ấm hồng đôi má.

Trên mặt bàn, nước chấm, rau thơm, ớt, tỏi, hạt tiêu đã sẵn sàng. Rau húng xanh non, mỡ màng. Tô nước chấm đều ăm ắp, màu hổ phách trong veo, nhìn rõ những lát ớt đỏ tươi và những miếng nấm hương được thái mỏng. Tôi “kết” bánh cuốn Hàng Gà cũng vì thứ nguyên liệu “không giống ai” của món ăn này: nấm hương.

Cùng với mộc nhĩ, thịt nạc, hành củ, nấm hương được băm nhỏ và xào chín để làm nhân bánh. Nấm hương cũng được xắt nhỏ, xào thơm rồi thả vào tô nước chấm nóng hổi, chờ thực khách cảm nhận được cái thơm, cái giòn của món ăn.

Hai phần bánh cuốn chả được bưng ra trước mặt chúng tôi. Những miếng bánh cuốn trắng mềm mại, trong veo, nhìn rõ cả những lát hành và nấm hương được băm nhỏ xếp chồng lên nhau trên một chiếc đĩa màu xanh ngọc. Cạnh đó là vài lát chả quế đã được hấp nóng hổi. Vài cọng rau thơm xanh xanh phủ một lớp trên cùng. Tôi tò mò nhìn người bạn đồng hành cẩn thận rắc một chút hạt tiêu, thả thêm vài lát ớt vào bát nước chấm. “Trời lạnh, thế này là tuyệt nhất!”, anh cười.

Nước chấm hòa đủ vị chua cay mặn ngọt. Bánh cuốn nóng hổi, mềm mại, thơm lừng mùi nấm hương, thịt nạc, mộc nhĩ. Một chút hăng hăng của cọng rau húng. Tất cả hòa vào một vị ngon khó cưỡng lại. Chúng tôi ai cũng gắp liên tục cho đến khi chiếc đĩa trống trơn, chỉ còn lại... vài cái cuống rau thơm. Người bạn nháy mắt, “Ấm người rồi chứ?”. Tôi tiếc rẻ, chưa muốn đứng dậy vì mải hít hà mùi thơm của những đĩa bánh cuốn đang được bưng ra cho những vị khách tiếp theo...

Tôi thích bánh cuốn. Hầu như đến tỉnh thành nào tôi cũng nếm thử món ăn này. Bánh cuốn trứng Lạng Sơn ăn ngầy ngậy, là lạ. Bánh cuốn kèm chả mực Hạ Long ngon đậm đà. Bánh cuốn thịt nướng Tam Đảo ăn giữa một trời đất đầy sương mù và gió lạnh kể ra cũng thú vị.

Riêng ở Hà Nội thôi cũng có bao nhiêu thức bánh cuốn: Bánh cuốn nguội Thanh Trì (ngoại thành Hà Nội) ngon một cách giản dị, bánh cuốn nhân thịt gà cuối phố Hàng Bồ lạ lẫm, bánh cuốn Thanh Vân nhân ruốc tôm thơm lừng đầu phố Hàng Gà.... Thế nhưng, công nhận, tôi chỉ yêu bánh cuốn nhân nấm, thịt của cửa hàng Phượng- 68 Hàng Gà ấy.

Không phải quán nhỏ, xinh xắn trông sang Hàng Mã rực rỡ màu sắc mỗi độ Giáng sinh, năm mới; cũng không phải bát nước chấm ngon mềm môi mỗi lần nếm thử; không phải anh bạn đi cùng có nụ cười duyên...; mà có lẽ món ăn Hà Nội ngon ở chính cái không gian, nơi những món ăn có tuổi đời cả trăm năm, được hình thành trong một con phố cổ kính, xưa cũ...

Tôi yêu sớm mùa đông Hà Nội, khi gió thổi vừa đủ làm người ta lạnh, ngồi xuống một hàng bánh cuốn đầu phố Hàng Gà, ngắm khói bay trên tay người tráng bánh, ngửi mùi thơm từ gạo, từ hành, từ nấm, nếm thử miếng bánh cuốn tưởng giản đơn nhưng lắm kỳ công của người làm ra nó. Thế là đủ cho bao nhiêu yêu thương về một vùng đất tôi gọi tên: Hà Nội!

Theo TNO, internet

Bún đỏ rất giản dị và dân dã, lạ miệng và thơm ngon. Khi mới đặt chân đến Đắk Lắk, vào một buổi chiều thời tiết se lạnh, một tô bún đỏ đã có thể làm du khách ấm lòng.

< Bún đỏ Ban Mê Thuộc.

Nằm trên cao nguyên Đắk Lắk rộng lớn ở phía Tây dãy Trường Sơn, TP.Buôn Ma Thuột không chỉ là trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của tỉnh Đắk Lắk, mà còn là thành phố trung tâm cấp vùng Tây Nguyên, có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng của vùng và cả nước.

Với lợi thế là vùng đất ba gian màu mỡ trù phú bậc nhất Tây Nguyên, Ban Ma Thuột luôn cho những hạt cà phê có hương vị đậm đà và thơm ngon. Đặc biệt, một trong những ấn tượng khó quên của thực khách khi đến đây là những ống cơm lam thơm ngát, chóe rượu cần say nồng, con gà sa lửa được ướp và nướng rất cầu kỳ công phu cùng với những món ẩm thực đặc sản khiến du khách khó quên, trong đó có món bún đỏ khá hấp dẫn “chẳng nơi nào có được”.

Món bún đỏ được bày bán nhiều nhất ở dọc con đường Phan Đình Giót, TP. Buôn Ma Thuột. Đây là con đường ngắn khoảng 100m giao với đường Lê Hồng Phong nằm ngay trung tâm thành phố nhưng được ưu thế là gần chợ Buôn Ma Thuột và một số trường học nên tập trung khá nhiều quán ăn ngon, trong đó phải kể đến hơn chục quán bún đỏ rất đặc sắc của người Ban Mê.

Khác với những món nước cầu kỳ như phở, bún chả cá Quy Nhơn, bún bò Huế, bún mắm…, bún đỏ rất giản dị và dân dã, lạ miệng và thơm ngon. Khi mới đặt chân đến Đắk Lắk, vào một buổi chiều thời tiết se lạnh, một tô bún đỏ đã có thể làm du khách ấm lòng.

Nguyên liệu để chế biến món ăn này làm từ cua đồng, chả viên và những quả trứng cút luộc. Qua bàn tay khéo léo của người nấu, tô bún đỏ trở nên hấp dẫn với màu sắc và mùi vị vô cùng quyến rũ: màu hơi đỏ của hạt điều, màu đỏ au của miếng cà chua cắt múi cau, màu xanh tươi non của đĩa rau, màu nâu của riêu cua và chả cá, màu trắng nõn nà của trứng cút luộc vừa bắt mắt vừa kích thích vị giác!

Thoạt nhìn nhiều người sẽ lầm tưởng món bún đỏ rất giống với bún riêu hay món canh bún thường bán ở Sài Gòn, nhưng hoàn toàn khác bởi bún đỏ của người Buôn Ma Thuột được ăn kèm rau cần nước và giá cùng một số phụ gia như mỡ hành, tóp mỡ rán giòn và nhất là trứng cút luộc.

Tuy rẻ và rất bình dân nhưng món bún đỏ rất được mọi người ưa chuộng, đi ngang bất kỳ một hàng bún đỏ nào, dù trong chợ, ở đầu ngõ, trên vỉa hè, bên đôi quang gánh, quanh một chiếc xe đẩy hay trong một quán ăn sang trọng... cũng có thể thấy cảnh người ăn tấp nập.

Buổi tối, ở Buôn Ma Thuột, trời se lạnh, góc phố bún đỏ Phan Đình Giót trở thành nơi khách đi về và nhất là xì xụp tô bún đỏ nóng hổi… đón hương vị lạ miệng để cảm nhận một Buôn Ma Thuột rất riêng biệt.

Korean Air! - Theo Báo Du Lịch, internet

Bún đỏ rất giản dị và dân dã, lạ miệng và thơm ngon. Khi mới đặt chân đến Đắk Lắk, vào một buổi chiều thời tiết se lạnh, một tô bún đỏ đã có thể làm du khách ấm lòng.

< Bún đỏ Ban Mê Thuộc.

Nằm trên cao nguyên Đắk Lắk rộng lớn ở phía Tây dãy Trường Sơn, TP.Buôn Ma Thuột không chỉ là trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của tỉnh Đắk Lắk, mà còn là thành phố trung tâm cấp vùng Tây Nguyên, có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng của vùng và cả nước.

Với lợi thế là vùng đất ba gian màu mỡ trù phú bậc nhất Tây Nguyên, Ban Ma Thuột luôn cho những hạt cà phê có hương vị đậm đà và thơm ngon. Đặc biệt, một trong những ấn tượng khó quên của thực khách khi đến đây là những ống cơm lam thơm ngát, chóe rượu cần say nồng, con gà sa lửa được ướp và nướng rất cầu kỳ công phu cùng với những món ẩm thực đặc sản khiến du khách khó quên, trong đó có món bún đỏ khá hấp dẫn “chẳng nơi nào có được”.

Món bún đỏ được bày bán nhiều nhất ở dọc con đường Phan Đình Giót, TP. Buôn Ma Thuột. Đây là con đường ngắn khoảng 100m giao với đường Lê Hồng Phong nằm ngay trung tâm thành phố nhưng được ưu thế là gần chợ Buôn Ma Thuột và một số trường học nên tập trung khá nhiều quán ăn ngon, trong đó phải kể đến hơn chục quán bún đỏ rất đặc sắc của người Ban Mê.

Khác với những món nước cầu kỳ như phở, bún chả cá Quy Nhơn, bún bò Huế, bún mắm…, bún đỏ rất giản dị và dân dã, lạ miệng và thơm ngon. Khi mới đặt chân đến Đắk Lắk, vào một buổi chiều thời tiết se lạnh, một tô bún đỏ đã có thể làm du khách ấm lòng.

Nguyên liệu để chế biến món ăn này làm từ cua đồng, chả viên và những quả trứng cút luộc. Qua bàn tay khéo léo của người nấu, tô bún đỏ trở nên hấp dẫn với màu sắc và mùi vị vô cùng quyến rũ: màu hơi đỏ của hạt điều, màu đỏ au của miếng cà chua cắt múi cau, màu xanh tươi non của đĩa rau, màu nâu của riêu cua và chả cá, màu trắng nõn nà của trứng cút luộc vừa bắt mắt vừa kích thích vị giác!

Thoạt nhìn nhiều người sẽ lầm tưởng món bún đỏ rất giống với bún riêu hay món canh bún thường bán ở Sài Gòn, nhưng hoàn toàn khác bởi bún đỏ của người Buôn Ma Thuột được ăn kèm rau cần nước và giá cùng một số phụ gia như mỡ hành, tóp mỡ rán giòn và nhất là trứng cút luộc.

Tuy rẻ và rất bình dân nhưng món bún đỏ rất được mọi người ưa chuộng, đi ngang bất kỳ một hàng bún đỏ nào, dù trong chợ, ở đầu ngõ, trên vỉa hè, bên đôi quang gánh, quanh một chiếc xe đẩy hay trong một quán ăn sang trọng... cũng có thể thấy cảnh người ăn tấp nập.

Buổi tối, ở Buôn Ma Thuột, trời se lạnh, góc phố bún đỏ Phan Đình Giót trở thành nơi khách đi về và nhất là xì xụp tô bún đỏ nóng hổi… đón hương vị lạ miệng để cảm nhận một Buôn Ma Thuột rất riêng biệt.

Korean Air! - Theo Báo Du Lịch, internet

So với các loài thủy sản nước ngọt, lươn là một trong những món ngon và bổ dưỡng nhất. Người miền Tây hầu như ai cũng thích lươn. Do đó các nhà hàng và quán ăn đặc sản đã không ngừng sáng tạo nhiều món ngon độc đáo để phục vụ du khách, trong đó có món gỏi lươn trộn bắp chuối (hoa chuối) vừa thơm ngon, vừa hấp dẫn, chỉ cần thưởng thức một lần sẽ nhớ mãi mùi vị của hương đồng cỏ nội.

Muốn làm món này, người sành ăn thường chọn cho được những con lươn bụng vàng, còn sống, to khoảng 300-500gr/con đem về xát muối hoặc tro nhiều lần, rồi cạo rửa sạch nhớt bằng nước ấm (cũng có thể dùng nước chanh để vuột lươn). Sau đó mổ bụng, bỏ ruột, lấy bỏ chỉ lưng, cắt khúc rồi ướp thêm tỏi, ớt, muối độ 15 phút cho thấm đều trước khi đem nướng trên bếp than hồng.

Bắp chuối phải là bắp chuối xiêm, nếu có chuối hột càng tốt. Bắp chuối sau khi bào xong phải ngâm với nước chanh để giữ màu trắng trong. Xong vắt ráo, đem trộn với nước mắm, chanh, đường, hành phi, tỏi phi, ớt, rau răm, ngò gai. Kế đến xé nhỏ thịt lươn vừa nướng chín và sắp đều lên đĩa. Sau cùng rưới lên một lớp mỡ hành, rắc đậu phộng rang và trang trí thêm vài sợi ớt, rau răm cho bắt mắt.

< Lươn vừa nướng chín.

Muốn cho hấp dẫn, người ta chăm chút món nước chấm sao cho vừa chua cay, vừa dịu ngọt để đĩa gỏi thêm phần đậm đà, thi vị.

Lươn nướng bao giờ cũng thơm ngon, ngọt đậm, mùi vị đặc trưng, hơi béo và có độ dai vừa phải. Không những thế, món gỏi lươn còn có sự hỗ trợ đắc lực của bắp chuối tuy dân dã, quê mùa nhưng mùi vị thật lạ, vừa giòn vừa ngọt pha chút chát, khác hẳn với gỏi đu đủ hoặc cải bắp mà nhiều người thường dùng.

Những ai từng thưởng thức món này đều phải ngợi khen bàn tay tài hoa, khéo léo của người nội trợ và sự phối hợp tinh tế giữa món lươn nướng nồng nàn cùng với các vị chua cay, mặn ngọt, thơm  béo, hấp dẫn lạ kỳ. Gắp miếng lươn nướng vàng ươm đưa vào miệng, mùi thơm phức xen lẫn vị bùi, ngọt cứ quyện chặt vào nhau...

Vào các ngày cuối tuần, bạn bè rủ nhau đến các khu ẩm thực bình dân thưởng thức món gỏi lươn, vừa bồi dưỡng sức khỏe vừa thư giãn để xua tan mệt mỏi sau những ngày lao động vất vả, thật không gì thú vị bằng.

Korean Air! - Theo Dulich Tuoitre

So với các loài thủy sản nước ngọt, lươn là một trong những món ngon và bổ dưỡng nhất. Người miền Tây hầu như ai cũng thích lươn. Do đó các nhà hàng và quán ăn đặc sản đã không ngừng sáng tạo nhiều món ngon độc đáo để phục vụ du khách, trong đó có món gỏi lươn trộn bắp chuối (hoa chuối) vừa thơm ngon, vừa hấp dẫn, chỉ cần thưởng thức một lần sẽ nhớ mãi mùi vị của hương đồng cỏ nội.

Muốn làm món này, người sành ăn thường chọn cho được những con lươn bụng vàng, còn sống, to khoảng 300-500gr/con đem về xát muối hoặc tro nhiều lần, rồi cạo rửa sạch nhớt bằng nước ấm (cũng có thể dùng nước chanh để vuột lươn). Sau đó mổ bụng, bỏ ruột, lấy bỏ chỉ lưng, cắt khúc rồi ướp thêm tỏi, ớt, muối độ 15 phút cho thấm đều trước khi đem nướng trên bếp than hồng.

Bắp chuối phải là bắp chuối xiêm, nếu có chuối hột càng tốt. Bắp chuối sau khi bào xong phải ngâm với nước chanh để giữ màu trắng trong. Xong vắt ráo, đem trộn với nước mắm, chanh, đường, hành phi, tỏi phi, ớt, rau răm, ngò gai. Kế đến xé nhỏ thịt lươn vừa nướng chín và sắp đều lên đĩa. Sau cùng rưới lên một lớp mỡ hành, rắc đậu phộng rang và trang trí thêm vài sợi ớt, rau răm cho bắt mắt.

< Lươn vừa nướng chín.

Muốn cho hấp dẫn, người ta chăm chút món nước chấm sao cho vừa chua cay, vừa dịu ngọt để đĩa gỏi thêm phần đậm đà, thi vị.

Lươn nướng bao giờ cũng thơm ngon, ngọt đậm, mùi vị đặc trưng, hơi béo và có độ dai vừa phải. Không những thế, món gỏi lươn còn có sự hỗ trợ đắc lực của bắp chuối tuy dân dã, quê mùa nhưng mùi vị thật lạ, vừa giòn vừa ngọt pha chút chát, khác hẳn với gỏi đu đủ hoặc cải bắp mà nhiều người thường dùng.

Những ai từng thưởng thức món này đều phải ngợi khen bàn tay tài hoa, khéo léo của người nội trợ và sự phối hợp tinh tế giữa món lươn nướng nồng nàn cùng với các vị chua cay, mặn ngọt, thơm  béo, hấp dẫn lạ kỳ. Gắp miếng lươn nướng vàng ươm đưa vào miệng, mùi thơm phức xen lẫn vị bùi, ngọt cứ quyện chặt vào nhau...

Vào các ngày cuối tuần, bạn bè rủ nhau đến các khu ẩm thực bình dân thưởng thức món gỏi lươn, vừa bồi dưỡng sức khỏe vừa thư giãn để xua tan mệt mỏi sau những ngày lao động vất vả, thật không gì thú vị bằng.

Korean Air! - Theo Dulich Tuoitre

Đôi khi những đặc điểm nằm bên ngoài món ăn lại làm tôi nhớ về đồ ăn, thức uống của một miền đất mình từng đặt chân qua. Riêng với phở Hà Nội, không hiểu sao, tôi chỉ thích ăn ở những quán cổ kính và... chật chội.

< Tô phở đầy đặn tại 23C phố Hai Bà Trưng.

Một người bạn bắt bẻ tôi, ở Hà Nội cái gì chẳng chật, nhà chật, đường chật thì chẳng có lý gì quán phở không chật? Tôi bảo vệ ý kiến của mình: "Chật đến độ phải nhường nhau từng cái ghế, và nếu giờ cao điểm, vai người này phải hích vào cùi tay của người kia cơ! Bạn tôi cười, thế thì chịu sở thích của một con bé... dở hơi!".

Vừa ăn phở vừa nghe"dàn đồng ca"

Quán phở đầu tiên tôi ăn ngày mới đặt chân lên Hà Nội là phở bò Hàng Đồng. Cậu học trò tôi làm gia sư năn nỉ cô giáo: Cô cứ thử ăn một lần đi, ngon hơn mấy cái quán được giới thiệu trên mạng là cái chắc! Và tôi đi ăn thật.

< Phở bò Hàng Đồng.

Quán nằm ngã tư Hàng Vải và Hàng Đồng, vỏn vẹn 12 mét vuông cho cả chỗ nấu của chủ, chỗ ngồi của khách. Tôi và học trò chọn một cái bàn ngoài vỉa hè cho thoáng, vừa ăn phở vừa nghe tiếng kim loại loảng xoảng của những cửa hàng lân cận. "Thế mới xứng danh là phở Hàng Đồng cô ạ", cậu bé thuyết minh.

Nước phở trong veo, bánh phở mềm, cọng hành xanh, thịt bò không nát cũng không dai. Chúng tôi vắt chanh và thả thêm vài lát ớt đỏ vào bát, cứ thế hai cô trò, mỗi người một đôi đũa, một chiếc thìa rồi xì xụp cho đến khi đáy bát chỉ còn chút nước. Thằng bé đưa giấy lau mồ hôi trên trán và hai sống mũi: Ăn xong ấm cả người!

Thằng bé nhà ở phố Bát Đàn, tuần nào cũng chạy ra quán phở bò này đôi ba lần, không ăn ở đó thì xách cà mên (cạp lồng) mua về cho ông, bà hay em gái. Cháu kể cho tôi nghe, thích nhất nước phở Hàng Đồng, thơm thơm mùi mắm, bánh phở vừa đủ độ dai, không nát. Thịt bò thái vừa đủ mỏng, gắp đủ cho người ăn, ăn đến độ cảm thấy đã miệng thì vừa hết bát. Tôi khâm phục một cậu bé lớp 8 nhưng khá sành phở.

Đến vỉa hè Hai Bà Trưng ăn phở


< Tiệm phở cổ kính trên phố Hai Bà Trưng rất nhỏ, nên thực khách phải ngồi ngoài vỉa hè.

Chúng tôi tình cờ biết được quán phở nằm ở 23C Hai Bà Trưng sau một chuyến đi chơi bờ hồ tết dương lịch mấy năm trước. Trời mưa phùn rét căm căm, người mệt nhoài, chúng tôi mừng như bắt được vàng khi thấy bên kia đường là một quán phở nằm ngay trên vỉa hè.

Không bàn ghế sang trọng, quán phở mang tên Huy Hoàng đơn sơ với những chiếc ghế nhựa để khách vừa làm bàn, vừa làm ghế. Phần diện tích trong nhà vài mét vuông đủ cho vài người khách ngồi, còn lại phần lớn khách đến được xếp ghế ngồi ngay vỉa hè.

Chúng tôi gọi phở tái chín. Hai tô phở đầy tràn được bưng ra, nhìn thôi đã thấy no nê. Nước dùng hơi ngậy, ngoài lớp hành lá tươi roi rói còn có những khoanh hành tây trắng muốt. Những miếng thịt bò nhìn có dính thêm chút mỡ nhưng ăn không hề thấy ngấy, bánh phở sợi to, mềm mịn. Tôi rưới chút tương ớt, vắt thêm chanh, trộn đều, đủ thấy tất cả các vị chua, cạy, mặn ngọt của tô phở Hà thành chính hiệu.


< Xếp hàng mua phở 49 Bát Đàn.

Về sau lên mạng tra cứu, tôi mới biết đây là quán phở nổi tiếng Hà Nội, có từ hàng chục năm trước.
Một câu chuyện kể rằng có một đôi nam nữ yêu nhau thường đến ăn phở ở quán này, đến giờ, khi cậu con trai của họ đã cao hơn bố một cái đầu, cả gia đình vẫn ghé đến 23C Hai Bà Trưng, gọi phở ăn, gặp hôm quán hết chỗ ngồi, nhất định họ đứng chờ người khác ăn xong thì thế chỗ chứ không tìm quán khác...

Theo Tây đi ăn phở xếp hàng

Ông bạn người Thụy Điển của tôi sau một hồi được dẫn đi ăn phở xếp hàng 49 Bát Đàn thì tỏ ra vô cùng phấn khích, anh ta reo lên bằng thứ tiếng Việt lơ lớ: Rất ngon
Đây là quán phở duy nhất tại Hà Nội có hình thức độc đáo như thời... bao cấp: khách đến phải xếp hàng, đưa tiền trước rồi tự bưng bát phở của mình đến một chỗ ngồi còn trống rồi tự thưởng thức. Quán phở không mở 24/24, chỉ từ 5 giờ 30 sáng đến 10 giờ 30 trưa, từ17 giờ 30 chiều tới 22 giờ tối, nhưng cảnh xếp hàng thì lúc nào cũng thấy.

Chúng tôi ăn nhiều lần ở quán này và thích nhất phở tái gầu. Một bát phở rất đầy đặn giá chỉ tầm 40.000 đồng. Thịt bò nhìn đã thấy mềm. Hành xanh muốt. Sợi phở vuông, nước dùng trong, ít béo hơn phở Hai Bà Trưng. Húp chút nước, đã thấy trong người ấm sực...


< Phở 49 Bát Đàn, cái ngon cũng từ sự đông đúc trong quán.

Người khách nước ngoài đi cùng chúng tôi không phải lần đầu tiên ăn phở Việt Nam, nhưng xếp hàng để lấy phở thì đúng là lần đầu tiên. Anh cũng cho thêm ớt, rau thơm vào bát phở sành sỏi như một người Việt chính hiệu. Anh còn làm chúng tôi bất ngờ hơn nữa khi khẳng định rằng, Phở 24 anh từng ăn ở nhiều thành phố tại Việt Nam đúng là có sạch hơn, rộng hơn, người phục vụ tận tình hơn, nhưng độ ngon, thì "phở xếp hàng" vẫn là số 1!

Xa Hà Nội, người ta có thể gặp những nỗi nhớ rất... ẩm thực. Nhớ ô mai Hàng Đường, nhớ trà chanh Nhà Thờ, nhớ caramen dốc hàng Than... Riêng tôi, tôi nhớ những giọt mồ hôi trên trán, dọc sống mũi, trên cằm, khi ngồi ăn phở ở một vỉa hè giữa trưa hay trong một cái quán chật chội, chỉ vừa kê đúng được 2, 3 chiếc ghế, nghe những thanh âm của một Hà Nội bận rộn.

Phở Hà Nội, cái tài tình của món ăn ngon từ miền đất lành đó là đánh thức được trong ta những cảm nhận không chỉ từ vị giác…

Korean Air! - Theo iHay, internet

Đôi khi những đặc điểm nằm bên ngoài món ăn lại làm tôi nhớ về đồ ăn, thức uống của một miền đất mình từng đặt chân qua. Riêng với phở Hà Nội, không hiểu sao, tôi chỉ thích ăn ở những quán cổ kính và... chật chội.

< Tô phở đầy đặn tại 23C phố Hai Bà Trưng.

Một người bạn bắt bẻ tôi, ở Hà Nội cái gì chẳng chật, nhà chật, đường chật thì chẳng có lý gì quán phở không chật? Tôi bảo vệ ý kiến của mình: "Chật đến độ phải nhường nhau từng cái ghế, và nếu giờ cao điểm, vai người này phải hích vào cùi tay của người kia cơ! Bạn tôi cười, thế thì chịu sở thích của một con bé... dở hơi!".

Vừa ăn phở vừa nghe"dàn đồng ca"

Quán phở đầu tiên tôi ăn ngày mới đặt chân lên Hà Nội là phở bò Hàng Đồng. Cậu học trò tôi làm gia sư năn nỉ cô giáo: Cô cứ thử ăn một lần đi, ngon hơn mấy cái quán được giới thiệu trên mạng là cái chắc! Và tôi đi ăn thật.

< Phở bò Hàng Đồng.

Quán nằm ngã tư Hàng Vải và Hàng Đồng, vỏn vẹn 12 mét vuông cho cả chỗ nấu của chủ, chỗ ngồi của khách. Tôi và học trò chọn một cái bàn ngoài vỉa hè cho thoáng, vừa ăn phở vừa nghe tiếng kim loại loảng xoảng của những cửa hàng lân cận. "Thế mới xứng danh là phở Hàng Đồng cô ạ", cậu bé thuyết minh.

Nước phở trong veo, bánh phở mềm, cọng hành xanh, thịt bò không nát cũng không dai. Chúng tôi vắt chanh và thả thêm vài lát ớt đỏ vào bát, cứ thế hai cô trò, mỗi người một đôi đũa, một chiếc thìa rồi xì xụp cho đến khi đáy bát chỉ còn chút nước. Thằng bé đưa giấy lau mồ hôi trên trán và hai sống mũi: Ăn xong ấm cả người!

Thằng bé nhà ở phố Bát Đàn, tuần nào cũng chạy ra quán phở bò này đôi ba lần, không ăn ở đó thì xách cà mên (cạp lồng) mua về cho ông, bà hay em gái. Cháu kể cho tôi nghe, thích nhất nước phở Hàng Đồng, thơm thơm mùi mắm, bánh phở vừa đủ độ dai, không nát. Thịt bò thái vừa đủ mỏng, gắp đủ cho người ăn, ăn đến độ cảm thấy đã miệng thì vừa hết bát. Tôi khâm phục một cậu bé lớp 8 nhưng khá sành phở.

Đến vỉa hè Hai Bà Trưng ăn phở


< Tiệm phở cổ kính trên phố Hai Bà Trưng rất nhỏ, nên thực khách phải ngồi ngoài vỉa hè.

Chúng tôi tình cờ biết được quán phở nằm ở 23C Hai Bà Trưng sau một chuyến đi chơi bờ hồ tết dương lịch mấy năm trước. Trời mưa phùn rét căm căm, người mệt nhoài, chúng tôi mừng như bắt được vàng khi thấy bên kia đường là một quán phở nằm ngay trên vỉa hè.

Không bàn ghế sang trọng, quán phở mang tên Huy Hoàng đơn sơ với những chiếc ghế nhựa để khách vừa làm bàn, vừa làm ghế. Phần diện tích trong nhà vài mét vuông đủ cho vài người khách ngồi, còn lại phần lớn khách đến được xếp ghế ngồi ngay vỉa hè.

Chúng tôi gọi phở tái chín. Hai tô phở đầy tràn được bưng ra, nhìn thôi đã thấy no nê. Nước dùng hơi ngậy, ngoài lớp hành lá tươi roi rói còn có những khoanh hành tây trắng muốt. Những miếng thịt bò nhìn có dính thêm chút mỡ nhưng ăn không hề thấy ngấy, bánh phở sợi to, mềm mịn. Tôi rưới chút tương ớt, vắt thêm chanh, trộn đều, đủ thấy tất cả các vị chua, cạy, mặn ngọt của tô phở Hà thành chính hiệu.


< Xếp hàng mua phở 49 Bát Đàn.

Về sau lên mạng tra cứu, tôi mới biết đây là quán phở nổi tiếng Hà Nội, có từ hàng chục năm trước.
Một câu chuyện kể rằng có một đôi nam nữ yêu nhau thường đến ăn phở ở quán này, đến giờ, khi cậu con trai của họ đã cao hơn bố một cái đầu, cả gia đình vẫn ghé đến 23C Hai Bà Trưng, gọi phở ăn, gặp hôm quán hết chỗ ngồi, nhất định họ đứng chờ người khác ăn xong thì thế chỗ chứ không tìm quán khác...

Theo Tây đi ăn phở xếp hàng

Ông bạn người Thụy Điển của tôi sau một hồi được dẫn đi ăn phở xếp hàng 49 Bát Đàn thì tỏ ra vô cùng phấn khích, anh ta reo lên bằng thứ tiếng Việt lơ lớ: Rất ngon
Đây là quán phở duy nhất tại Hà Nội có hình thức độc đáo như thời... bao cấp: khách đến phải xếp hàng, đưa tiền trước rồi tự bưng bát phở của mình đến một chỗ ngồi còn trống rồi tự thưởng thức. Quán phở không mở 24/24, chỉ từ 5 giờ 30 sáng đến 10 giờ 30 trưa, từ17 giờ 30 chiều tới 22 giờ tối, nhưng cảnh xếp hàng thì lúc nào cũng thấy.

Chúng tôi ăn nhiều lần ở quán này và thích nhất phở tái gầu. Một bát phở rất đầy đặn giá chỉ tầm 40.000 đồng. Thịt bò nhìn đã thấy mềm. Hành xanh muốt. Sợi phở vuông, nước dùng trong, ít béo hơn phở Hai Bà Trưng. Húp chút nước, đã thấy trong người ấm sực...


< Phở 49 Bát Đàn, cái ngon cũng từ sự đông đúc trong quán.

Người khách nước ngoài đi cùng chúng tôi không phải lần đầu tiên ăn phở Việt Nam, nhưng xếp hàng để lấy phở thì đúng là lần đầu tiên. Anh cũng cho thêm ớt, rau thơm vào bát phở sành sỏi như một người Việt chính hiệu. Anh còn làm chúng tôi bất ngờ hơn nữa khi khẳng định rằng, Phở 24 anh từng ăn ở nhiều thành phố tại Việt Nam đúng là có sạch hơn, rộng hơn, người phục vụ tận tình hơn, nhưng độ ngon, thì "phở xếp hàng" vẫn là số 1!

Xa Hà Nội, người ta có thể gặp những nỗi nhớ rất... ẩm thực. Nhớ ô mai Hàng Đường, nhớ trà chanh Nhà Thờ, nhớ caramen dốc hàng Than... Riêng tôi, tôi nhớ những giọt mồ hôi trên trán, dọc sống mũi, trên cằm, khi ngồi ăn phở ở một vỉa hè giữa trưa hay trong một cái quán chật chội, chỉ vừa kê đúng được 2, 3 chiếc ghế, nghe những thanh âm của một Hà Nội bận rộn.

Phở Hà Nội, cái tài tình của món ăn ngon từ miền đất lành đó là đánh thức được trong ta những cảm nhận không chỉ từ vị giác…

Korean Air! - Theo iHay, internet

Canh chua cá lóc, bánh cống Cần Thơ, cá kèo nướng ống sậy, nem nướng Cái Răng, bánh tét lá cẩm, ốc nướng tiêu... là những món ăn quen thuộc của người dân Cần Thơ - những hương vị hút hồn bao khách du lịch.

Cá kèo nướng ống sậy

Cá kèo còn gọi là cá bống kèo, được nhiều người ưa thích. Cá kèo có thể chế biến nhiều món ăn như: cá kèo kho tiêu, cá kèo chiên giòn, cá kèo kho rau răm, cá kèo nướng muối ớt, cá kèo nướng ống tre, cá kèo nướng bơ tỏi, cháo cá kèo… Trong đó, đặc biệt nhất có lẽ là cá kèo nướng ống sậy.

Cá kèo nướng ống sậy là món ăn do nhà hàng Hoa Sứ (Cần Thơ) sáng tạo, và từ lâu đã trở thành một trong những lựa chọn hấp dẫn của nhà hàng này.

Đó cũng là món quyến rũ thực khách ghé trở lại nhà hàng. Ăn kèm cùng cá kèo nướng ống sậy là các loại rau thơm, chuối chát. Đặc biệt, món này không kén thức chấm, chỉ cần muốt ớt chanh là đủ. Xé ống sậy ra, hơi nóng từ con cá bốc lên, cho miếng cá vào miệng, vị ngọt của cá hòa cùng vị ngọt của sậy, lẫn vị cay, mặn, chua của muối chanh ớt cho ta hương vị rất lạ.

Bánh cống Cần Thơ

Bánh cống là thứ bánh dân dã, đã rẻ lại ngon, ai đã ăn một lần không dễ quên. Người Cần Thơ xem bánh cống là thứ quà vặt nên chỉ để ăn vào buổi chiều hay tối.

Nguyên liệu chính để làm bánh là bột, đậu xanh và tôm. Bột pha chế qua nhiều công đoạn. Ba phần gạo, một phần nếp, ngâm một đêm rồi xay mịn. Sau khi “bồng” bột gạo nếp trong một túi vải cho ráo nước, người ta lại pha vào bột gạo nếp này một phần ba bột mì loại ngon, thêm nước, hành lá cắt nhỏ và gia vị. Hỗn hợp bột này không được lỏng như bột đổ bánh xèo. Có người còn cho thêm vào bột vài quả trứng gà cho thêm phần thơm ngon.

Bánh cống ăn với nước mắm chua ngọt và các loại rau diếp cá, đọt xoài, cải đắng, xà lách, húng quế… Chỉ nhìn dĩa bánh vàng ươm và dĩa rau tươi xanh là đã muốn thưởng thức. Mùi đậu xanh, mùi thịt, mùi tôm chiên trộn lẫn vào nhau thơm nức mũi, bát nước mắm lấm tấm hạt ớt, tép chanh, trong veo mấy cọng dưa chua đu đủ. Đúng là một món ăn phong phú về cả mùi vị và màu sắc. Khi đến Cần Thơ, quý khách có thể thưởng thức món bánh cống thơm ngon, giòn rụm tại 6A Nguyễn Trãi, Q.Ninh Kiều, TP Cần Thơ.

Nem nướng Cái Răng

Từ hình thức của món ăn cho đến cách bán hàng đều khác lạ, không thuận tiện - nếu không nói là khó khăn cho thực khách. Muốn ăn nem nướng, khách phải điện thoại đặt trước với điều kiện đặt từ 1 ký trở lên, rồi đúng hẹn khách phải tự đến nơi nhận nem đem về. Cách buôn bán này có từ rất lâu đời của một lò nem nướng ở trung tâm quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Mọi thức ăn kèm theo buộc phải có khi ăn nem nướng như rau thơm, dưa leo, khóm, khế, chuối chát, ớt, sả, đậu phộng rang đâm sơ, bánh tráng nem và bánh hỏi…

Nem nướng Cái Răng ngon nhất vẫn là làm từ thịt lợn tươi, quết dẻo rồi vo tròn nướng trên than hồng. Từng viên nem tròn trĩnh, xỏ xâu bởi thanh tre chuốt nhỏ, mỡ vàng rượm do được nướng khéo.

Canh chua cá lóc

Cá lóc làm sạch, cắt ra từng khứa to nấu với me, giá, bạc hà, ngò gai, cà chua… phi thêm chút tỏi cho thơm. Ăn canh chua cá lóc muốn ngon thì nước chấm phải là nước chấm trong (chưa pha chế), dầm ớt vào cho cay. Tô canh chua cá lóc nóng nghi ngút, hấp dẫn với màu trắng của thịt cá, màu vàng của thơm, màu đỏ của cà, màu xanh của ngò gai… cùng lớp tỏi phi vàng nổi trên mặt khiến ta chỉ nhìn thôi cũng muốn ăn ngay…

Chỉ với con cá lóc. người dân Cần Thơ còn có thể chế biến ra hơn một chục món ăn ngon khác, món nào cũng độc đáo, hấp dẫn, đậm đà hương vị miền Nam. Chắc chắn rằng, cá lóc nướng trui, canh chua cá lóc, cá lóc nướng lá sen… vẫn luôn là những món ăn thấm đẫm hồn quê mà nguời dân đất phương Nam vẫn luôn lưu giữ trong tâm khảm mình, dù có đi bất cứ nơi đâu.

Bánh Tét lá cẩm

Bánh tét lá cẩm Cần Thơ có hương vị riêng rất đặc biệt. Phải là loại nếp thơm và dẻo ngâm với lá cẩm để có màu tím tự nhiên. Sau đó, cho nếp này xào với nước cốt dừa trước khi gói. Bánh nấu từ 4 đến 5 tiếng đồng hồ là chín. Cắt bánh, vành ngoài ánh lên một màu tím mượt mà của nếp, bên trong là thịt, tròng đỏ hột vịt muối, mỡ và đậu tỏa mùi thơm.

Bánh tét lá cẩm được bày bán ở góc đường Phan Đình Phùng, Tân Trào và trong chợ Cần Thơ. Có thể mua về làm quà cho gia đình và bè bạn vì bánh để được vài ngày.

Ốc  nướng tiêu Cần Thơ

Ốc được luộc sơ cho rớt mặt rồi bỏ lên lửa than nướng, vừa nướng vừa bỏ nước mắm đã làm sẵn gia vị như tiêu, tỏi, bột ngọt… khi thấy nước bên trong con ốc sôi lên, hơi cạn xuống thì cho vào đĩa lót rau răm thơm phức. Ốc nướng như vậy rất vừa ăn, hơi cay, vừa ngọt mặn, vừa giòn, ăn thịt rồi mà húp nước ốc thì rất tuyệt.

Khi thưởng thức, món ốc nướng tiêu có vị thơm của mùi than nướng, độ ngọt và giòn của ốc. Ốc nướng tiêu ăn đúng điệu phải húp cả nước gia vị bên trong ốc. Vị mặn, hơi cay của nước ốc càng làm cho món ăn thêm phần hấp dẫn và lạ miệng. Cũng có lẽ vì thế khi dùng món ăn này, người ta không cần thêm thứ nước chấm nào khác.

Korean Air! - Theo Nguyễn Nhung (Vietnamnet)

Canh chua cá lóc, bánh cống Cần Thơ, cá kèo nướng ống sậy, nem nướng Cái Răng, bánh tét lá cẩm, ốc nướng tiêu... là những món ăn quen thuộc của người dân Cần Thơ - những hương vị hút hồn bao khách du lịch.

Cá kèo nướng ống sậy

Cá kèo còn gọi là cá bống kèo, được nhiều người ưa thích. Cá kèo có thể chế biến nhiều món ăn như: cá kèo kho tiêu, cá kèo chiên giòn, cá kèo kho rau răm, cá kèo nướng muối ớt, cá kèo nướng ống tre, cá kèo nướng bơ tỏi, cháo cá kèo… Trong đó, đặc biệt nhất có lẽ là cá kèo nướng ống sậy.

Cá kèo nướng ống sậy là món ăn do nhà hàng Hoa Sứ (Cần Thơ) sáng tạo, và từ lâu đã trở thành một trong những lựa chọn hấp dẫn của nhà hàng này.

Đó cũng là món quyến rũ thực khách ghé trở lại nhà hàng. Ăn kèm cùng cá kèo nướng ống sậy là các loại rau thơm, chuối chát. Đặc biệt, món này không kén thức chấm, chỉ cần muốt ớt chanh là đủ. Xé ống sậy ra, hơi nóng từ con cá bốc lên, cho miếng cá vào miệng, vị ngọt của cá hòa cùng vị ngọt của sậy, lẫn vị cay, mặn, chua của muối chanh ớt cho ta hương vị rất lạ.

Bánh cống Cần Thơ

Bánh cống là thứ bánh dân dã, đã rẻ lại ngon, ai đã ăn một lần không dễ quên. Người Cần Thơ xem bánh cống là thứ quà vặt nên chỉ để ăn vào buổi chiều hay tối.

Nguyên liệu chính để làm bánh là bột, đậu xanh và tôm. Bột pha chế qua nhiều công đoạn. Ba phần gạo, một phần nếp, ngâm một đêm rồi xay mịn. Sau khi “bồng” bột gạo nếp trong một túi vải cho ráo nước, người ta lại pha vào bột gạo nếp này một phần ba bột mì loại ngon, thêm nước, hành lá cắt nhỏ và gia vị. Hỗn hợp bột này không được lỏng như bột đổ bánh xèo. Có người còn cho thêm vào bột vài quả trứng gà cho thêm phần thơm ngon.

Bánh cống ăn với nước mắm chua ngọt và các loại rau diếp cá, đọt xoài, cải đắng, xà lách, húng quế… Chỉ nhìn dĩa bánh vàng ươm và dĩa rau tươi xanh là đã muốn thưởng thức. Mùi đậu xanh, mùi thịt, mùi tôm chiên trộn lẫn vào nhau thơm nức mũi, bát nước mắm lấm tấm hạt ớt, tép chanh, trong veo mấy cọng dưa chua đu đủ. Đúng là một món ăn phong phú về cả mùi vị và màu sắc. Khi đến Cần Thơ, quý khách có thể thưởng thức món bánh cống thơm ngon, giòn rụm tại 6A Nguyễn Trãi, Q.Ninh Kiều, TP Cần Thơ.

Nem nướng Cái Răng

Từ hình thức của món ăn cho đến cách bán hàng đều khác lạ, không thuận tiện - nếu không nói là khó khăn cho thực khách. Muốn ăn nem nướng, khách phải điện thoại đặt trước với điều kiện đặt từ 1 ký trở lên, rồi đúng hẹn khách phải tự đến nơi nhận nem đem về. Cách buôn bán này có từ rất lâu đời của một lò nem nướng ở trung tâm quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Mọi thức ăn kèm theo buộc phải có khi ăn nem nướng như rau thơm, dưa leo, khóm, khế, chuối chát, ớt, sả, đậu phộng rang đâm sơ, bánh tráng nem và bánh hỏi…

Nem nướng Cái Răng ngon nhất vẫn là làm từ thịt lợn tươi, quết dẻo rồi vo tròn nướng trên than hồng. Từng viên nem tròn trĩnh, xỏ xâu bởi thanh tre chuốt nhỏ, mỡ vàng rượm do được nướng khéo.

Canh chua cá lóc

Cá lóc làm sạch, cắt ra từng khứa to nấu với me, giá, bạc hà, ngò gai, cà chua… phi thêm chút tỏi cho thơm. Ăn canh chua cá lóc muốn ngon thì nước chấm phải là nước chấm trong (chưa pha chế), dầm ớt vào cho cay. Tô canh chua cá lóc nóng nghi ngút, hấp dẫn với màu trắng của thịt cá, màu vàng của thơm, màu đỏ của cà, màu xanh của ngò gai… cùng lớp tỏi phi vàng nổi trên mặt khiến ta chỉ nhìn thôi cũng muốn ăn ngay…

Chỉ với con cá lóc. người dân Cần Thơ còn có thể chế biến ra hơn một chục món ăn ngon khác, món nào cũng độc đáo, hấp dẫn, đậm đà hương vị miền Nam. Chắc chắn rằng, cá lóc nướng trui, canh chua cá lóc, cá lóc nướng lá sen… vẫn luôn là những món ăn thấm đẫm hồn quê mà nguời dân đất phương Nam vẫn luôn lưu giữ trong tâm khảm mình, dù có đi bất cứ nơi đâu.

Bánh Tét lá cẩm

Bánh tét lá cẩm Cần Thơ có hương vị riêng rất đặc biệt. Phải là loại nếp thơm và dẻo ngâm với lá cẩm để có màu tím tự nhiên. Sau đó, cho nếp này xào với nước cốt dừa trước khi gói. Bánh nấu từ 4 đến 5 tiếng đồng hồ là chín. Cắt bánh, vành ngoài ánh lên một màu tím mượt mà của nếp, bên trong là thịt, tròng đỏ hột vịt muối, mỡ và đậu tỏa mùi thơm.

Bánh tét lá cẩm được bày bán ở góc đường Phan Đình Phùng, Tân Trào và trong chợ Cần Thơ. Có thể mua về làm quà cho gia đình và bè bạn vì bánh để được vài ngày.

Ốc  nướng tiêu Cần Thơ

Ốc được luộc sơ cho rớt mặt rồi bỏ lên lửa than nướng, vừa nướng vừa bỏ nước mắm đã làm sẵn gia vị như tiêu, tỏi, bột ngọt… khi thấy nước bên trong con ốc sôi lên, hơi cạn xuống thì cho vào đĩa lót rau răm thơm phức. Ốc nướng như vậy rất vừa ăn, hơi cay, vừa ngọt mặn, vừa giòn, ăn thịt rồi mà húp nước ốc thì rất tuyệt.

Khi thưởng thức, món ốc nướng tiêu có vị thơm của mùi than nướng, độ ngọt và giòn của ốc. Ốc nướng tiêu ăn đúng điệu phải húp cả nước gia vị bên trong ốc. Vị mặn, hơi cay của nước ốc càng làm cho món ăn thêm phần hấp dẫn và lạ miệng. Cũng có lẽ vì thế khi dùng món ăn này, người ta không cần thêm thứ nước chấm nào khác.

Korean Air! - Theo Nguyễn Nhung (Vietnamnet)

Những ngày này tới thăm người Mường ở Kim Bôi (Hòa Bình) bạn cũng sẽ ngạc nhiên khi thấy góc nhà nào cũng có dăm ba ống tre to được buộc đậy cẩn thận. Đó chính là những ống đựng thịt chua.Những ngày này tới thăm người Mường ở Kim Bôi (Hòa Bình) bạn cũng sẽ ngạc nhiên khi thấy góc nhà nào cũng có dăm ba ống tre to được buộc đậy cẩn thận. Đó chính là những ống đựng thịt chua.

Sau tết, gia đình người Mường đều có thịt chua và đây là món ăn mà bất kỳ phụ nữ Mường nào cũng biết làm. Đậm đà hương vị cây lá núi rừng, thịt chua đã trở thành món ăn truyền thống của người Mường nơi đây.

Dịp tết, mỗi gia đình Mường thường thịt riêng một chú lợn béo tròn để làm các món ăn. Do có quá nhiều thịt lợn cho mấy ngày này nên người Mường xưa đã sáng tạo ra món thịt chua như một phương pháp bảo quản số thịt chưa dùng đến.

Thịt chua được làm từ hai nguyên liệu chính là thịt lợn và thính gạo. Đó phải là thứ thịt lẫn nạc và mỡ như thịt ba chỉ chứ không phải là thứ nạc tinh. Người ta đem thịt thái nhỏ hay to tùy vào sở thích từng người rồi ướp muối và gia vị để món ăn có vị đậm đà.

Với món thịt chua, việc làm thính là quan trọng nhất, đòi hỏi đôi tay khéo léo của người nội trợ. Những hạt gạo được phụ nữ Mường rang thật đều cho dậy thơm, vàng ươm, không để cháy. Gạo ấy đem giã nhỏ thành thính rồi dùng tay bóp đều vào thịt.

Lọ đựng thịt chua không phải vại, chum sành hay hộp nhựa mà là những ống tre to của núi rừng. Họ đặt vài lá ổi bánh tẻ đã rửa sạch dưới đáy ống tre, bỏ thịt vào ống và lại ủ một lớp lá ổi lên trên đó.

Thịt được lèn chặt bằng bằng những nẹp tre gài chéo nhau. Vậy là ngay từ khâu ủ, thịt chua đã ngấm vị, ngấm hương của cây, lá núi rừng.
Thịt chua được ăn cùng lá sung, xạ đen, lá mít non và lá vả. Cái vị chua, dai và đậm đà của thịt hòa cùng vị chát và bùi của lá rừng tạo cho món ăn hương vị thật độc đáo, khó quên.

Những ống thịt chua chính là món quà thú vị và ý nghĩa mà các bà, các mế người Mường vẫn đem cho con cháu, tặng biếu bạn bè mỗi dịp tết.

Korean Air! - Theo Amthuc365, internet

Những ngày này tới thăm người Mường ở Kim Bôi (Hòa Bình) bạn cũng sẽ ngạc nhiên khi thấy góc nhà nào cũng có dăm ba ống tre to được buộc đậy cẩn thận. Đó chính là những ống đựng thịt chua.Những ngày này tới thăm người Mường ở Kim Bôi (Hòa Bình) bạn cũng sẽ ngạc nhiên khi thấy góc nhà nào cũng có dăm ba ống tre to được buộc đậy cẩn thận. Đó chính là những ống đựng thịt chua.

Sau tết, gia đình người Mường đều có thịt chua và đây là món ăn mà bất kỳ phụ nữ Mường nào cũng biết làm. Đậm đà hương vị cây lá núi rừng, thịt chua đã trở thành món ăn truyền thống của người Mường nơi đây.

Dịp tết, mỗi gia đình Mường thường thịt riêng một chú lợn béo tròn để làm các món ăn. Do có quá nhiều thịt lợn cho mấy ngày này nên người Mường xưa đã sáng tạo ra món thịt chua như một phương pháp bảo quản số thịt chưa dùng đến.

Thịt chua được làm từ hai nguyên liệu chính là thịt lợn và thính gạo. Đó phải là thứ thịt lẫn nạc và mỡ như thịt ba chỉ chứ không phải là thứ nạc tinh. Người ta đem thịt thái nhỏ hay to tùy vào sở thích từng người rồi ướp muối và gia vị để món ăn có vị đậm đà.

Với món thịt chua, việc làm thính là quan trọng nhất, đòi hỏi đôi tay khéo léo của người nội trợ. Những hạt gạo được phụ nữ Mường rang thật đều cho dậy thơm, vàng ươm, không để cháy. Gạo ấy đem giã nhỏ thành thính rồi dùng tay bóp đều vào thịt.

Lọ đựng thịt chua không phải vại, chum sành hay hộp nhựa mà là những ống tre to của núi rừng. Họ đặt vài lá ổi bánh tẻ đã rửa sạch dưới đáy ống tre, bỏ thịt vào ống và lại ủ một lớp lá ổi lên trên đó.

Thịt được lèn chặt bằng bằng những nẹp tre gài chéo nhau. Vậy là ngay từ khâu ủ, thịt chua đã ngấm vị, ngấm hương của cây, lá núi rừng.
Thịt chua được ăn cùng lá sung, xạ đen, lá mít non và lá vả. Cái vị chua, dai và đậm đà của thịt hòa cùng vị chát và bùi của lá rừng tạo cho món ăn hương vị thật độc đáo, khó quên.

Những ống thịt chua chính là món quà thú vị và ý nghĩa mà các bà, các mế người Mường vẫn đem cho con cháu, tặng biếu bạn bè mỗi dịp tết.

Korean Air! - Theo Amthuc365, internet